gia đình phật tử là gì
Phưởng phất khắp mười phương, Cúng dường ngôi Tam Bảo, Thề trọn đời giữ đạo, Theo tự tánh làm lành, Cùng pháp giới chúng sanh, Cầu Phật từ gia hộ. Tâm bồ đề kiên cố, Xa bể khổ nguồn mê Chóng quay về bờ giác. TÁN PHẬT Chủ lễ xá rồi đọc tiếp: Đấng pháp vương vô thượng, Ba cõi chẳng ai bằng, Thầy dạy khắp trời người, Cha lành chung bốn loài,
Ngôi chùa là một trong những công trình Phật giáo nổi tiếng bậc nhất tại Bình Dương. Tọa lạc tại số 29 đường Chùa Hội Khánh, phường Phú Cường, thành phố Thủ Dầu Một, chùa Hội Khánh là một công trình kiến trúc tôn giáo, nghệ thuật lớn ở tỉnh Bình Dương. Chùa
Giras said: Thì đa số người VN là vô thần mà anh. Đa phần dân chúng là vô thần cho tới khi họ già đi. Mãn kiếp tôi vẫn sẽ nhìn và tin rằng bản chất của tôn giáo là để trị dân, tôi sẽ không bao giờ tin được có 1 vị thần. Còn như Phật thì là một con người nhìn ra
Quý Vị Muốn Biết Quỷ Là Gì Không? để sanh sống, đều không thật sự là Phật tử, mà là trùng trong thân sư tử, mặc áo Phật, nương theo Phật để kiếm ăn. Bà Bàng, và cô Bàng cùng là người trong một gia đình, nhưng chỗ thấy biết của mỗi người lại không giống
Khởi nguyên, Tự là công sở, trụ sở, dinh thự, dịch quán (Sơ đẳng Phật học giáo khoa thư - Tự). Đến thời Hán, Tự là nhà khách dùng để tiếp đón quan khách và các đoàn sứ giả (Hồng Lô tự). Khi hai nhà truyền giáo Ấn Độ đầu tiên là Ca Diếp Ma Đằng và Trúc Pháp Lan đến Trung quốc, Hán Minh đế thỉnh hai ngài ở Hồng Lô tự.
Bước 1 : Tìm kiếm tại Cổng thông tin điện tử bảo hiểm xã hội Việt Nam — BHXH Việt Nam: baohiemxahoi.gov.vn ; vào mục Tra cứu trực tuyến - Tương ứng truy cập đường link TẠI ĐÂY. Bước 2: Trên giao diện Tra cứu thông tin Bảo hiểm Y tế Hộ gia đình, bạn cần điền đầy
Vay Tienonline Me.
Ngày xưa, lúc mới vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử GĐPT, tôi thường tìm đọc các tác phẩm của Anh Võ Đình Cường như Thử hòa điệu sống, Những cặp kính màu, Đây Gia đình hoặc tác phẩm Sứ mệnh Gia Đình Phật Tử của tác giả Lữ Hồ, hay những tác phẩm của Anh Như Tâm Nguyễn Khắc Từ một cụm từ mà tôi thường đọc được, đó là cụm từ “Lý tưởng Gia Đình Phật Tử”. Nói thật, lúc đó tôi không hiểu lý tưởng GĐPT là gì, chỉ mơ hồ biết đó là một cái gì cao quý mà bất cứ đoàn viên GĐPT nào cũng mơ ước và tôn thờ. Sau này, suốt mấy chục năm đi sinh hoạt GĐPT, tôi không lúc nào ngơi nghỉ suy tư, quán chiếu tìm hiểu thế nào là lý tưởng GĐPT. Rồi dần dần theo năm tháng, giống như một trái cây trên cành đã đến lúc chín muồi, cái nghĩa lý của cụm từ “Lý tưởng GĐPT” hiện hình dần trong tâm thức tôi. Cho đến hôm nay, ở tuổi “thất thập cổ lai hi” tôi tự thấy mình đã có đủ tự tin để chia sẻ đề tài này đến các anh chị huynh trưởng trẻ, nhằm mục đích giúp các anh chị sớm hiểu về lý tưởng của mình để kiên định con đường mình đang đi, để đủ sức vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc đời làm huynh trưởng GĐPT, từ đó có thể hoàn thành lý tưởng và kết thúc vẻ vang sự nghiệp cao quý trong cuộc đời huynh trưởng của chúng ta. LÝ TƯỞNG LÀ GÌ? Trước khi tìm hiểu về Lý tưởng GĐPT, chúng ta cần hiểu từ “Lý tưởng” là gì. Lý tưởng là ước mơ cháy bõng và cao đẹp của một người, mà người ấy sẵn sàng hy sinh tất cả những gì mà người đời thường coi là quý giá nhất để biến ước mơ ấy thành hiện thực. Xem thêm Người Phật Tử chân chánh Kỳ 4 Người Phật Tử chân chánh tiếp theo Người Phật Tử Chân Chánh Ước mơ phải cao đẹp và vĩ đại thì mới được gọi là lý tưởng. Thế nào là cao đẹp và cĩ đại ? Đó là khi ước mơ ấy mang mục đích lợi ích chân chánh cho nhân quần xã hội. Thí dụ Thái tử Tất Đạt Đa ước mơ thành Phật để cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổ Nhà cách mạng ước mơ đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập cho Tổ Quốc Ước mơ sau này trở thành bác sĩ để cứu người thoát khỏi bệnh tật Ước mơ trở thành một nhà đại doanh nhân làm giàu cho đất nước Ước mơ trở thành nhà chính trị lỗi lạc lãnh đạo đất nước đi lên sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới. Vân vân… NGƯỜI SỐNG CÓ LÝ TƯỞNG LÀ NGƯỜI ĐÁNG QUÝ Người sống có lý tưởng là người cao quý đáng được mọi người kính trọng. Ngưới đó có thể thành công hay thất bại, nhưng vẫn được người đời ca tụng, tôn thờ. Thí dụ -Trong thời thực dân Pháp đô hộ nước ta, có biết bao người đứng lên chống Pháp để dành độc lập nhưng đều thất bại, nổi bật trong số nhà cách mạng ấy có Vua Thành Thái, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh Đó là những thần tượng cách mạng, tuy họ không thành công nhưng nhân dân vẫn ca ngợi, kính trọng vì đó là những con người đã hy sinh cho lý tưởng vì dân vì nước của mình. Người sống có lý tưởng luôn là thiểu số trong xã hội. Họ thường không giàu tiền bạc và địa vị xã hội, thậm chí họ còn là người “vô sản” đúng nghĩa . Tại sao vậy ? Tại vì tất cả nỗ lực của họ không hướng về việc kiếm tiền , tài sản hay địa vị, mà để dành tất cả sinh lực cho việc biến lý tưởng của mình trở thành hiện thực. Chúng ta hãy tìm hiểu về cuộc đời của Nguyễn Ái Quốc và các học trò của Người trong suốt sự nghiệp chống Pháp, chống Mỹ giành độc lập cho dân tộc Việt Nam thì thấy rõ điều này. LÝ TƯỞNG CỦA THÁI TỬ TẤT ĐẠT ĐA Thái tử Tất Đạt Đa ra đời tại một tiểu quốc tên Ca Tỳ La Vệ thuộc miền Bắc Ấn Độ cách nay năm. Vào lúc ấy, xã hội Ấn Độ chia làm bốn giai cấp gồm -Giai cấp Bà la môn tức giai cấp giáo sĩ đạo Bà la môn, được xã hội trọng vọng và ưu đãi nhất -Giai cấp Sát đế lợi tức giai cấp vua chúa, quan quyền, quân đội giữ việc cai trị đất nước, được kính trọng và có nhiều đặc quyền kế sau giai cấp Bà la môn -Giai cấp Phệ xá bao gồm những người thương gia, chủ hảng xưởng giàu có, địa chủ… được xã hội dành sự trọng vọng sau hai giai cấp trên -Giai cấp Thủ đà la đây là giai cấp hạ tiện ở tận cùng dưới đáy xã hội, gồm những hạng đầy tớ, làm thuê, hốt rác, gánh phân, phu pheng, tạp dịch, lao động chân tay bị xã hội khinh miệt ruồng bỏ. trong khi 3 giai cấp trên cộng lại chỉ chiếm tỷ lệ 50% dân số, thì giai cáp Thủ đà la chiếm 50% dân số còn lại, Họ làm lụng cực khổ suốt đời nhưng vẫn không đủ cơm ăn áo mặc; sống trong những túp lều tạm bợ; không được đi học; bệnh tật không có thuốc uống; chết không có hòm chôn… Từ đời tổ tiên cho đến đời cháu, chắt, chút, chít… mãi mãi không bao giờ vươn lên thoát khỏi cảnh đời khốn khổ của giai cấp Thủ đà la. Trong bối cảnh xã hội phân chia giai cấp cùng cực ấy đã làm nổi bật lên sự bất hạnh của con người trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Đó là nguyên nhân khơi dậy lòng bi mẫn của Thái tử Tất Đạt Đa, khiến Ngài quyết định hy sinh tất cả cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con thơ và những thú vui trần thế để sống đời khất sĩ đi tìm chân lý kiếp nhân sinh qua 5 năm học đạo, 6 năm khổ hạnh và 49 ngày đêm thiền định. Ngài đã đi đến tận cùng con đường lý tưởng của mình và đã thành công vang dội khi đạt đến chỗ giác ngộ toàn diện mọi chân lý vũ trụ và nhân sinh. Ngài đã hiến tặng trọn cuộc đời 49 năm để đi khắp nơi thuyết giảng những chân lý do Ngài khám phá giúp cho nhân loại thực hành nhằm đi tới chỗ giác ngộ, giải thoát, an vui, không còn đau khổ nữa. Trong lịch sử nhân loại chưa có bậc vĩ nhân nào sánh được với Đức Phật về tầm vóc vĩ đại của lý tưởng Ngài chọn và về sự thành công trong việc theo đuổi và thực hiện đến cùng lý tưởng cao đẹp của mình. LÝ TƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ LÀ GÌ? Là đoàn viên GĐPT, không ai trong chúng ta không biết về mục đích của tổ chức GĐPT là “… đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật trở thành Phật tử chân chánh, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội” Để hoàn thành mục đích của tổ chức, người huynh trưởng phải nỗ lực hoàn thành ba việc lớn có ý nghĩa lợi ích thiết thực cho bản thân , cho đạo pháp và cho xã hội Một là tự tu học và hướng dẫn đoàn sinh tu học để trở thành người Phật tử chân chánh, tức là hạng người có giá trị về mặt tài năng và đạo đức trong xã hội, là những công dân gương mẫu của đất nước Việt Nam. Hai là đem đạo đức và tài năng của mình ra phụng sự đạo pháp, tức là làm cho Phật pháp chân chánh phát triển rực rỡ không giới hạn không gian, thời gian, Ba là cống hiến cho xã hội những giá trị mà mình có được do tu tập nhiều năm theo Phật pháp, nghĩa là góp phần xây dựng một xã hội đạo đức an vui, đem trí tuệ và hạnh tinh tấn ra xây dựng xã hội ấm no hạnh phúc. Ba việc lớn nêu trên có mang ý nghĩa cao quý không ? – Có ! Ba việc lớn trên đây có đem lợi ích cho nhân quần xã hội không ? – Có ! Hoàn thành tốt đẹp ba việc trên đây tức là chu toàn Lý tưởng Gia Đình Phật Tử rồi vậy. Xin đón xem tiếp phần 2
Cải cách là gì? Cải cách, hiểu nôm na là sự thay đổi, sự làm mới cho phù hợp với tình hình thực tế trong hiện tại. GĐPTVN đang cần những sự thay đổi, sự làm mới mình để theo kịp sự chuyển biến nhanh chóng từng ngày của xã hội VN. Từ cái nhìn Phật giáo, sự thay đổi của một cá nhân hoặc tổ chức cho phù hợp với dòng chảy cuộc sống là tuân theo định luật vô thường và tùy duyên bất biến. Điều này hoàn toàn tương ứng với các lý thuyết về quản trị của khoa học quản lý 1, theo đó, có thể phân chia các hình thức thay đổi thành các thể loại như sau • Thay đổi có tính kế hoạch, ngược với thay đổi mang tính đột khởi, • Thay đổi mang tính giai đoạn, ngược với thay đổi mang tính liên tục, • Thay đổi mang tính phát triển, quá độ hay chuyển hóa. Ở đây xin được miễn nêu ra tính chất, đặc điểm của các thể loại thay đổi. Riêng đối với quá trình cải cách sinh hoạt GĐPT, người viết nghĩ rằng đây là một sự thay đổi cần được lập kế hoạch cẩn thận, được thực hiện theo từng giai đoạn, lộ trình và hướng tới một mục tiêu chuyển hóa tổ chức sao cho phù hợp và hiệu quả nhất trong xã hội VN đương đại. Tại sao phải cải cách sinh hoạt GĐPT? Tại sao cần cải cách sinh hoạt GĐPT? Câu hỏi này đã được giải đáp một phần trong bài viết trước. Và 12 Lá Thư Huynh trưởng của tác giả Trần Kiêm Đoàn đăng trên Tạp chí Văn Hóa Phật Giáo cũng góp phần làm sáng tỏ rất nhiều lý do tại sao cần phải hiện đại hóa và đổi mới tổ chức GĐPT. Ở đây, nhằm tổng hợp tất cả các kiến giải về cơ sở lý luận để hiện đại hóa GĐPT, chúng tôi xin trình bày một phân tích SWOT Strengths – Điểm mạnh, Weaknesses – Điểm yếu, Opportunities – Cơ hội, Threats – Thách thức để đánh giá thực trạng GĐPTVN hiện nay. 2 SWOT là một mô hình đơn giản, dễ sử dụng nhằm giúp cho một tập thể tự nhìn vào bên trong bản thân mình để nhận diện đâu là điểm mạnh, điểm yếu đang có, đồng thời nhìn ra môi trường bên ngoài để xác định những cơ hội và thách thức xung quanh. Mô hình này giúp cho tập thể nhận ra được những khoảng trống giữa cái đang có và cái xã hội đang yêu cầu trong hiện tại và tương lai. Cải cách GĐPT, cải cách cái gì? Từ trước tới nay, khi nói đến việc cải cách sinh hoạt GĐPT, có nhiều ý kiến cho rằng cần điều chỉnh trang phục, cấu trúc lại các bộ môn sinh hoạt, biên tập lại tài liệu tu học các ngành, củng cố lại đội ngũ huynh trưởng Các ý kiến này đều xác đáng nhưng chưa mang tính thuyết phục vì chưa đưa ra được phương pháp luận để làm cơ sở xây dựng, dẫn đến các ý kiến mang nặng tính tiểu tiết, chủ quan và cảm tính. Trong thế kỷ 20 vừa qua, khoa học quản trị hiện đại đã giới thiệu nhiều phương pháp hữu ích nhằm giúp các cá nhân, tổ chức trả lời cho câu hỏi “Thay đổi cái gì, hiện đại hóa cái gì?”. Chúng tôi xin trình bày một phương pháp đơn giản và dễ áp dụng trong môi trường GĐPT, đó là phương pháp Cây Vấn Đề. Phương pháp Cây vấn đề Phương pháp này giúp chúng ta phân tích sâu vấn đề đang diễn ra để tìm ra nguyên nhân gốc rễ và nhận thức được hậu quả của vấn đề đó. Phương pháp này được ứng dụng hữu hiệu khi chúng ta liệt kê được càng nhiều càng tốt các vấn đề mà một đoàn thể đang gặp phải. Lấy ví dụ Một vấn đề lớn mà tổ chức GĐPT đang gặp phải là đa số các đơn vị GĐPT không giữ chân đoàn sinh ngành Thiếu được lâu dài. Các bước tìm hiểu về vấn đề này theo phương pháp Cây Vấn Đề được liệt kê như sau – Bước 1 Viết vấn đề trọng tâm ra giữa tờ giấy ứng với THÂN CÂY – Bước 2 Thảo luận nguyên nhân gây ra vấn đề và viết ý kiến xuống phần dưới tờ giấy theo các cấp độ nguyên nhân ứng với các tầng RỄ CÂY – Bước 3 Thảo luận những hậu quả của vấn đề và ghi ý kiến lên phía trên tờ giấy theo cấp độ hậu quả NGỌN CÂY Trong quá trình thảo luận, ta sử dụng ít nhất 5 lần câu hỏi Tại Sao để tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề .3 Qua biểu đồ 1, chúng ta thấy phương pháp Cây Vấn Đề là một bài tập động não rất dễ hiểu, dễ sử dụng, thuận tiện cho việc áp dụng mọi lúc mọi nơi, từ trong buổi trò chuyện, họp định kỳ của đơn vị GĐPT cho đến việc áp dụng chính thức cho chuyên mục “Nhóm nghiên cứu cải cách sinh hoạt GĐPT”. Làm gì với kết quả của Cây Vấn Đề? Quá trình cải cách GĐPT cần phải thực hiện theo phương châm “được lập kế hoạch, mang tính giai đoạn và hướng tới chuyển hóa chất lượng thật sự”. Như vậy, sau khi bài tập Cây Vấn Đề đã được thực hiện xong và ví dụ chúng ta xác định được 10 vấn đề trọng tâm, nên chăng chung ta tập trung giải quyết cả 10 vấn đề cùng một lúc? Câu trả lời khôn ngoan chắc chắn là “Không!”. Thay vào đó, chúng ta phải thực hiện phương pháp xếp hạng ưu tiên trong 10 vấn đề để lựa chọn những vấn đề nòng cốt và khả thi nhất. Ví dụ, có thể chọn 5 vấn đề quan trọng nhất/khẩn cấp nhất/khả thi nhất theo bảng hướng dẫn sau. Cải cách sinh hoạt GĐPT – cải cách như thế nào? Sau khi đã đánh giá thực trạng hiện tại của tổ chức thông qua phương pháp phân tích SWOT Điểm mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức và sử dụng phương pháp Cây Vấn Đề để tìm hiểu nguyên nhân gốc rễ các vấn đề nóng bỏng nhất của tổ chức, bước tiếp theo quan trọng là xác định phương hương cải cách như thế nào. Muốn trả lời câu hỏi này, cần thực hiện ít nhất 4 công việc như sau Tổ chức khảo sát, lấy ý kiến đoàn sinh và phụ huynh Trước hết, ta cần thấy rằng, trong hoạt động của tổ chức GĐPT, đối tượng trung tâm là ai? Chắc chắn không phải là các bác Gia trưởng, các anh chị Liên đoàn trưởng, Huynh trưởng. Chính các em, các bạn Thiếu Nam, Thiếu Nữ, Nam nữ Oanh vũ mới là đối tượng trung tâm, là gốc gác của mọi sự đổi thay, và là hạt nhân nòng cốt nhất của quá trình cải cách sinh hoạt GĐPT. Đã từ rất lâu, người viết tự hỏi GĐPT đã tổ chức được bao nhiêu đợt khảo sát, lấy ý kiến đoàn sinh để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, cảm tưởng, nhận xét, nhu cầu của các em về mọi mặt hoạt động của tổ chức Áo Lam mà các em đã phát tâm gắn bó cuộc đời mình? Thực tế, có anh chị trưởng đã trao đổi với người viết là tại sao không thử đề xuất một vài mô hình mới lạ trong sinh hoạt GĐPT nhằm thu hút và giữ chân các em nhiều hơn với tổ chức và chia sẻ kinh nghiệm này với các đơn vị GĐPT bạn. Ý kiến này có 2 điểm đáng băn khoăn. Thứ nhất, việc đề xuất một vài mô hình nào đó dường như mang tính đột khởi, nhất thời và thiếu một phương pháp luận làm nền tảng vững chắc cho mọi sự thay đổi. Thứ hai, ý tưởng một khi chỉ đơn thuần xuất phát từ phía người huynh trưởng thì dù người đó có giỏi dang, nhạy bén đến bao nhiêu vẫn sẽ đi vào con đường áp đặt chủ kiến lên các em, làm điển hình cho một kiểu hoạt động “từ trên xuống” và đi ngược hoàn toàn với khuynh hướng “từ dưới lên” cũng chính là nguyên tắc lấy dân làm gốc trong đạo trị nước. Vì vậy, con đường cải cách mái nhà Lam phải được xuất phát từ chính các em đoàn sinh. Ý kiến của các em mới chính là những viên gạch lót đường đầu tiên cho con đường làm mới tổ chức GĐPT. Một khi nguyên tắc “Lấy đoàn sinh làm gốc” này đã được thống nhất cao trong tập thể huynh trưởng thì công việc tổ chức phỏng vấn, điều tra theo bảng hỏi, thảo luận chỉ là các yếu tố kỹ thuật. Ngoài ra, vì đối tượng của tổ chức GĐPT đa phần là thanh thiếu nhi nên việc quyết định gửi các em đến tổ chức GĐPT hay không phụ thuộc một phần rất lớn ở bố mẹ. Nhóm nghiên cứu cũng cần quan tâm đặc biệt đến đối tượng này. Khảo sát, lấy ý kiến từ huynh trưởng và những người quan tâm đến sinh hoạt GĐPT. Đây là đối tượng thứ hai của lộ trình hiện đại hóa tổ chức. Nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức khảo sát, thảo luận sẽ cần được thiết kế sao cho phù hợp với các huynh trưởng và các thiện tri thức tâm huyết với sự nghiệp phát triển tổ chức GĐPT. Đặc biệt phải đảm bảo được rằng các kinh nghiệm quý báu trong đời và đạo của các anh chị đi trước sẽ được chắt lọc, giữ gìn và truyền đạt lại đầy đủ cho các thế hệ đàn em đi sau để làm hành trang khi đi vào một giai đoạn mới của lịch sử GĐPT. Nghiên cứu, học hỏi các kinh nghiệm hoạt động hiệu quả từ các đoàn thể thanh thiếu niên trong và ngoài nước. Trong Lá thư Huynh trưởng số 8, tác giả Trần Kiêm Đoàn nhận xét rằng sinh hoạt của GĐPT hiện tại đã rất cổ điển và có khuynh hướng già nua trong khung trời tuổi trẻ. So với nếp sinh hoạt thanh niên cởi mở, sáng tạo, độc lập và hồn nhiên của tuổi trẻ Âu, Mỹ trong các sinh hoạt đoàn thể trẻ như Hướng Đạo Boy scouts, Girl scouts; YMCA Young Men’s Christian Association – Thanh Niên Tin Lành; UNYA United Nations Youth Associations – Tuổi Trẻ Liên Hiệp Quốc… thì nếp sinh hoạt của GĐPT đang bị chững lại ở ngã ba đường của “sinh hoạt tu học” hơn là hoạt động thanh niên. Nói không xa, Hội Tuổi trẻ Phật tử Malaysia cũng là một điển hình đáng ngưỡng mộ trong phong trào tập hợp thanh thiếu niên Phật tử tại Đông Nam Á. Vậy, những tổ chức, hội đoàn đó đã làm cụ thể những gì để đạt được thành công như hôm nay? “Nhóm nghiên cứu cải cách sinh hoạt GĐPT” phải hết sức cầu thị, thậm chí là chủ động tiếp cận để nắm bắt thông tin và học hỏi kinh nghiệm từ các đoàn thể đó. Tổng hợp thông tin, công bố báo cáo khuyến nghị và đề xuất thử nghiệm mô hình trước khi áp dụng đại trà Để kết thúc lộ trình cải cách sinh hoạt GĐPT thành công, các nghiên cứu viên nòng cốt cần kết hợp kết quả khảo sát ý kiến của đoàn sinh, phụ huynh, huynh trưởng, các thiện tri thức với việc tìm hiểu các phương thức hoạt động tập hợp thanh thiếu niên hiệu quả tại VN và các nước, các tổ chức bạn. Sau đó, nhóm công tác tổng hợp thông tin, đăng tải trên website và chọn một dịp thích hợp, tổ chức một buổi thuyết trình báo cáo với BHDTƯ và đại diện các tỉnh thành về kết quả nghiên cứu và đề xuất khuyến nghị. Hẳn nhiên, mô hình cải cách và những điều chỉnh trong chương trình tu học sinh hoạt, nếu có, sẽ không có sự áp dụng đại trà mà sẽ thí điểm ở một số tỉnh, thành phố, sau đó, rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung để có thể vừa mang tính phổ quát, vừa có đặc điểm linh hoạt tùy nghi áp dụng theo từng vùng miền, điều kiện, hoàn cảnh, kinh tế … của các đơn vị GĐPT ở các tỉnh, thành, khu vực. Nói tóm lại, theo lý thuyết quản trị hiện đại, giai đoạn hoàn thiện cuối cùng của lộ trình hiện cải cách sinh hoạt GĐPT cần thực hiện các bước liên tiếp, nối kết trong một vòng tròn theo tiến trình lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch; theo dõi, kiểm tra, phản hồi, đánh giá; điều chỉnh và bổ sung hoạt động. Quảng Tâm – Tôn Thất Kỳ Văn 1. Mintzberg, H. 1989 Mintzberg on Management inside our strange world of organisations. Chicago Free Press 2. Tự điển bách khoa toàn thư thế giới Wikipedia 2008 Giới thiệu về SWOT. 3. Senge, P., Kleiner, A., Roberts, C., Ross, R. B. and Smith, B. J. 994 The Fifth Discipline Fieldbook Strategies and Tools for Building a Learning Organisation. New York Doubled. Kính mời quý chư Tôn đức và độc giả tham gia ý kiến về vấn đề cải cách Gia đình Phật tử Việt Nam theo một số vấn đề sau – Vai trò của Gia đình Phật tử với sự phát triển của Phật giáo Việt Nam, đối với việc giáo dục thanh thiếu niên – Phân tích hiện trạng của Gia đình Phật tử Việt Nam hiện nay Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức mối đe dọa – Mô hình sinh hoạt của Gia đình Phật tử Việt Nam trong tương lai Mô hình tổ chức, nội dung sinh hoạt, hình thức sinh hoạt… – Hướng phát triển gia đình Phật tử tại các địa phương đặc thù hải ngoại, miền Bắc Việt Nam… Mọi ý kiến xin bấm vào đây, hoặc gửi email về địa chỉ trisu hoặc gọi điện thoại về số 095 3553777
Loài vật vẫn có những loài sống thành đôi, thành cặp, có trống có mái, có đực có cái, cũng sinh con và cũng biết nuôi cho con của chúng lớn lên, đủ lông đủ cánh, biết săn mồi. Con người là một động vật cao cấp khác với loài vật vì con người có tư duy, có lao động và biết suy nghĩ trước khi hành động. Trong việc duy trì nòi giống, con người thương yêu nhau, kết hợp với nhau thành gia đình, sinh con, giáo dục con thành người có ích. Việc người nam và người nữ kết hợp với nhau thành vợ chồng đều phải thông qua hôn nhân, được gia đình, xã hội và luật pháp công nhận. Hôn nhân là kết quả của quá trình yêu đương giữa người nam và người nữ đã trưởng thành, là sự kết hợp với nhau thông qua sự chấp thuận của cha mẹ đôi bên, sự công nhận của pháp luật thông qua thủ tục đăng ký kết hôn. Từ đó, giữa họ hình thành một mối quan hệ mới là quan hệ gia đình. Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách. Gia đình tốt thì xã hội mới tốt. Xã hội tốt thì gia đình càng tốt. Trong xã hội, con người có nhu cầu tín ngưỡng và thực thi lý tưởng mà tự thân hướng đến. Chúng ta là những Phật tử, là những con người có niềm tin và làm theo những gì mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã chỉ dạy. Do đó, chúng ta càng phải có những nhận thức đúng đắn về hôn nhân-gia đình để xây dựng hạnh phúc phù hợp với giáo lý đạo Phật đồng thời phù hợp cuộc sống xã hội. 1- Quyền có hôn nhân và gia đình Đạo Phật là đạo giải thoát, giác ngộ. Bất cứ ai là Phật tử hay không Phật tử theo quan điểm của đạo Phật đều có quyền đi đến hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, những người đủ duyên để xuất gia, trở thành những nhà sư, tu sĩ thì nguyện sống một đời sống không gia đình, chiếm một số lượng rất nhỏ trong số tín đồ Phật giáo. Họ tự nguyện xa rời cuộc sống thế gian, không vướng bận vào vòng tình ái, vợ con. Cần nói rõ thêm, trước khi xuất gia, họ có quyền có hôn nhân, gia đình, vợ con. Nhưng khi đã xuất gia thì họ phải toàn tâm toàn ý tu học Phật pháp để trở thành người giác ngộ và giúp cư sĩ tại gia tu học. Những người chưa đủ duyên để xuất gia thì tu học tại nhà. Đạo Phật không ngăn cấm cư sĩ tại gia không được có tình yêu, hôn nhân và gia đình. Cư sĩ tại gia tin và tu theo giáo lý đạo Phật, sống cùng xã hội, tuôn theo luật pháp và đạo lý con người. 2-Phật tử tại gia có quyền có tình yêu, hôn nhân, gia đình Tình yêu trai gái là điều tự nhiên của con người. Con người được sinh ra, được nuôi dưỡng và lớn lên. Khi đến tuổi trưởng thành, người nam và người nữ tự nhiên có tình cảm với người khác phái. Từ đấy, họ nẩy nở tình yêu. Tình yêu giữa người nam và và người nữ hoàn toàn không có gì là xấu xa. Đó là quy luật phát triển tự nhiên của con người. Không ai có thể ngăn cấm tình yêu trai và gái. Có những lề thói cổ hũ ngăn cấm đã dẫn đến những hâu quả khôn lường, mang lại nổi đau cho những người thân yêu, ruột thịt. Tình yêu và hôn nhân là chuyện bình thường của con người. Cha mẹ nuôi dưỡng con cái lớn khôn luôn mong mỏi con cái của mình tìm được “ý trung nhân” để xây dựng mái ấm gia đình hạnh phúc. Đức Phật không hề bác bỏ hay ngăn cấm người nam, nữ trưởng thành yêu nhau. Đức Phật khuyên dạy con người từ lúc yêu thương nhau đến lúc chung sống với nhau phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội, phải hợp với đạo lý làm người. Giáo lý nhà Phật đặt nền tảng trên tình thương yêu con người. Ngài dạy con người phải thương yêu nhau, mang lại niềm vui, an lạc cho nhau. Xây dựng cuộc sống hôn nhân, gia đình là phải mang lại hạnh phúc, niềm vui cho nhau , chứ không phải mang lại nỗi đau. Trong Kinh Đại Bảo Tích , Đức Phật đã dạy “Nếu một người đàn ông có thể tìm được một người vợ, người phụ nữ thích hợp và hiểu biết; người phụ nữ có thể tìm được một người chồng, người đàn ông thích hợp và hiểu biết, cả hai thực sự may mắn”. Như thế, Đức Phật đã nêu rõ nền tảng của hạnh phúc gia đình là sự hiểu biết lẫn nhau và phù hợp với nhau. Dân gian Việt Nam chúng ta nói nôm na là “Nồi nào vung nấy”, tức là sự phù hợp với nhau về tính cách, lối sống và sự cảm thông nhau. Sự phù hợp ở đây hoàn toàn không có nghĩa là “Môn đăng hộ đối” với hàm ý phân chia giàu nghèo, sang hèn. Nếu hai người không phù hợp với nhau mà phải chung sống với nhau thì rất khó có hạnh phúc. Tình yêu chân chính bao giờ cũng dẫn đến hôn nhân, tạo lập gia đình. Như thế hôn nhân phải luôn đi đôi với gia đình. Tình yêu không đi đến hôn nhân thì thường là mang đến nỗi sầu khổ đôi khi mang đến hận thù. Chuyện tình “Roméo và Juliet” là một câu chuyện lãng mạn về tình yêu. Chỉ vì mối thù giữa hai dòng họ, khiến cho họ không thể đến với nhau bằng hôn nhân, nàng Juliet tìm đến cái chết bằng thuốc độc, chàng Roméo tự vẫn bằng gươm. Ngày nay, cũng đôi khi đôi ban trẻ không được đến với nhau do gia đình ngăn cấm, họ cũng tìm đến cái chết. Thật thương thay ! 3-Hôn nhân- gia đình, hạnh phúc của người Phật tử Như trên đã nói, Phật tử ở đây là các cư sĩ tại gia. Khi đã có tình yêu thì người Phật tử có quyền tiến đến hôn nhân và lập gia đình. Giáo lý nhà Phật không can thiệp, ngăn cấm hay bó buộc gì giữa đôi trai, gái. Đạo Phật là đạo từ bi, hỷ xả, không cố chấp. Giáo lý đạo Phật không đòi hỏi phật tử của mình buộc người hôn phối phải từ bỏ đạo khác mới được kết hôn như một vài tôn giáo khác. Hai người nam nữ trưởng thành thương yêu nhau và tiến đến hôn nhân là một nhân duyên lớn. Khi tiến đến hôn nhân để có cuộc sống chung giữa hai người là bắt đầu một quá trình thử thách. Hôn nhân này có dẫn đến hạnh phúc hay khổ đau phụ thuộc rất nhiều vào đạo đức và nhân cách của hai người. Để có cuộc sống hạnh phúc, người Phật tử cần phải thực hiện những nguyên tắc đạo đức của con người, sống và thực hiện các quy định của pháp luật, trên hết người Phật tử cần phải nhớ kỹ và thực hành những lời Phật dạy. Về góc độ luật pháp, hôn nhân phải đảm bảo các nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và bình đẳng. Vợ và chồng phải chung thủy, thương yêu, quý trọng, giúp đỡ nhau cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Vợ chồng tôn trọng và giữ gìn danh dự, nhân phẩm, uy tín cho nhau. Vơ chồng tạo điều kiện cho nhau trong việc chọn nghề, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, xã hội theo nguyện vọng và khả năng mỗi người. Khi có con, cha mẹ có nghĩa vụ và quyền yêu thương, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con, chăm lo việc học tập và giáo dục con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Về góc độ đạo lý con người Vợ chồng phải thương yêu nhau, quý trọng nhau và cùng nhau có trách nhiệm xây dựng gia đình hạnh phúc, nuôi dưỡng con cái thành người hữu ích. Về góc độ giáo lý đạo Phật, vợ chồng phải biết bao dung, chân tình, thương yêu và quý trọng lẫn nhau theo nếp sống xây dựng một đời sống gia đình hạnh phúc mà Phật đã dạy. Người chồng phải biết yêu thương, kính trọng và trung thành với người vợ, săn sóc chu đáo đời sống kinh tế của người vợ; thương yêu chưa đủ, hạnh phúc cần phải đáp ứng các nhu cầu cuộc sống. Người vợ phải thương yêu, kính trọng, chung thủy với chồng, khéo léo hành xử đối với những mối quan hệ của chồng và vui vẻ với làng giềng. Trong thời đại ngày nay, hạnh phúc của người Phật tử là phải biết hướng dẫn con cái trở thành Phật tử, biết tôn kính Tam bảo, biết đi chùa, thương yêu người, bố thí, bớt tham sân si….Con cái hiếu để, kính trọng ông bà, cha mẹ, lánh xa kẻ xấu ác và không làm điều ác, thường hay làm việc thiện. Phật tử là cư sĩ tại gia có nhiều trách nhiệm đối với xã hội làm công dân, làm người lao động, làm kinh tế, đối với gia đình làm chồng, làm vợ, làm cha, làm mẹ, đối với bản thân thường xuyên tu dưỡng đạo đức, làm gương sáng cho con nên người Phật tử tại gia phấn đấu tu học làm một việc hết sức khó đúng với lời nói “Thứ nhất là tu tại gia, thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa”. Phật tử tại gia xây dựng được mái ấm gia đình hạnh phúc, làm kinh tế đủ sống hoặc dư giả, nuôi dạy con nên người, đồng thời vẫn có thời gian đến chùa nghe pháp, tu học thì đúng là một kỳ tích phi thường. 4- Những điều nên làm để có hạnh phúc trong hôn nhân-gia đình Khi trưởng thành, người nam và người nữ bắt đầu có tình yêu thì phải giữ gìn cho tình yêu trong sáng. Sự thương yêu nhau là hết sức cần thiết, song quan trọng hơn là biết kính trọng nhau. Sự kính trọng ngay những ngày yêu thương nhau sẽ làm nên tảng cho tình yêu lâu dài. Có kính trọng nhau mới vượt qua được sự ham muốn, giữ cho nhau sự trong sáng về mặt trinh tiết và phẩm hạnh. Nhiều bạn trẻ sớm đổ vỡ tình yêu vì đã quá hiểu rõ về nhau, cho nhau tất cả những gì cần phải gìn giữ cho hạnh phúc trước khi lập gia đình. Tạo điều kiện cho người bạn đời tương lai của mình hiểu biết về gia đình cha mẹ, anh em hai bên. Có hiểu về gia đình nhau mới thông cảm cho nhau, biết là gia đình người hôn phối có đạo lý, đạo đức như nhà minh không. Gặp nhà không biết đạo đức thì nên hướng dẫn họ sống đạo đức, nếu không được thì nên sớm nói lời chia tay trước khi quá muộn. Chọn người yêu phù hợp với mình, trước hết là phù hợp về tín ngưỡng. Không nên chọn người tôn giáo khác mà người ấy buộc mình phải bỏ đạo Phật mới tiến đến hôn nhân. Đạo Phật không đòi hỏi người yêu của mình bỏ đạo thì người yêu của mình cũng không được buộc mình phải bỏ đạo Phật. Như thế là mất công bằng và bình đẳng trước khi hai người trở thành vợ thành chồng. Trong hôn nhân mà không có bình đẳng ghì thật khó có hạnh phúc lâu dài. Nhiều cuộc hôn nhân với người khác tôn giáo đã cho thấy, họ cũng có hạnh phúc trong thời gian đầu, sau đó họ lục đục vì tranh chấp dạy dỗ con cái, cho con theo đạo nào và bản thân họ cũng mặc cảm bất an vì đã “bỏ đạo”. Nhiều người đàn ông vì muốn lấy được người mình yêu đã bỏ đạo, nhưng sau đó cũng bỏ cả “đạo theo” vì lương tâm cắn rứt, lúc ấy người hôn phối cũng mất hạnh phúc vì chồng vợ mình bị gia đình nhiếc mắng có thằng chồng con vợ phản đạo. Khi tiến đến hôn nhân và thành lập gia đình, cả vợ và chồng cần phải luôn có ý thức cộng đồng trách nhiệm trong tạo dựng hạnh phúc gia đình. Không phải chỉ một người nhường nhịn mà phải cả hai người cùng nhường nhịn lẫn nhau. Cuộc sống gia đình làm gì không có những mâu thuẩn to hay nhỏ, nếu chỉ vì một lời nói, một tự ái thiếu kìm chế thì cuộc sống hôn nhân sẽ đổ vỡ. Vợ chồng khi đã lấy nhau rồi cũng phải tiếp tục kính trọng như ngày chưa lấy nhau. Người Việt Nam ta có câu “ Tương kính như tân” Quý trọng nhau như mới gặp nhau. Có tôn trọng lẫn nhau thì sẽ không có người nầy xem nhẹ, xem thường người kia, không có lời nói của kẻ cả với vợ hay chồng mình. Khi được tôn trọng, vợ chồng sẽ có lời nói nhẹ nhàng, mang lại niềm vui và hạnh phúc cho nhau. Vợ chồng nên giảm thiểu lới trách móc, chì chiết mà thay vào đó bằng lời nói yêu thương, nhẹ nhàng. Có thương yêu tôn trọng nhau thì vợ và chồng sẽ không dám có tư tưởng và hành động phản bội, thiếu thủy chung. Vợ chồng phải thành thật với nhau, vợ chồng tuy hai mà là một, tuy một mà là hai. Vợ chồng không được dấu diếm nhau điều gì Không có bí mật tư riêng. Vợ chồng chia sẻ niềm vui lẫn nỗi buồn sẽ giúp nhau giải quyết khó khăn, thông cảm nhau hơn và cùng nhau vượt qua khó khăn. Người chồng hay người vợ giấu diếm, che dấu điều gì sẽ khiến cho người hôn phối của mình cảm thấy bị lừa đối. Từ đấy sẽ mất niềm tin với nhau. Vợ chồng mà thiếu niềm tin thì hạnh phúc cũng kém bền vững. Vợ chồng phải có cách thức giáo dục con cái nên người. Con cái nên người, thành đạt là niềm hạnh phúc của gia đình. Nếu đứa con tốt thì cha mẹ hạnh phúc. Đứa con hư thì cha mẹ bất hạnh. Đức Phật dạy “Cha mẹ phải có bổn phận khuyên bảo con cái tránh xa điều xấu, làm điều tốt, tạo cho con cái có nền giáo dục tốt, tạo điều kiện cho chúng lập gia đình với người phù hợp”. Hôn nhân – gia đình là một hiện tượng xã hội, không chỉ luật pháp quy định chặt chẽ về hôn nhân gia đình mà đạo đức xã hội, giáo lý của các tôn giáo đều có những quy định để buộc công dân, tín đồ của mình tuân theo. Đạo Phật đã thấm nhuần vào trong cuộc sống của nhiều người dân, vì giáo lý đạo Phật thật sự tôn trọng tình yêu, hôn nhân và gia đình của con người. Pháp luật về hôn nhân và gia đình ở nước ta có nhiều nguyên tắc, trong đó có một nguyên tắc mà đạo Phật chú trọng, đó là nguyên tắc bình đẳng trong hôn nhân. Bình đẳng là nguyên tắc đảm bảo hạnh phúc lâu dài. Để có hạnh phúc, người Phật tử cần tin và làm theo lời Phật dạy, sống và hành động đúng theo đạo lý làm người, phù hợp quy định của luật pháp đem đến hạnh phúc an vui cho chính mình và cho mọi người.
Website chuyên thông tin về đạo Phật. Thư viện phật giáo gồm các clip sinh động về học Phật, đọc Pháp, hình ảnh chân thực các vị Phật, Bồ Tát Đang xem Gia đình phật tử là gì Tin tức Phật học Danh tăng Văn học Văn hóa Tự viện Các Chùa Trong Nước Các Chùa Trên Thế Giới Phật pháp Giáo pháp Bước đầu học phật Lịch sử Nghi thức Từ thiện Thư viện audio Âm nhạc Pháp âm Radio phật giáo Nhạc chờ phật giáo Thư viện video Pháp thoại Thư viện ảnh Hình phật Hoa sen Chú tiểu Danh lam thắng cảnh Gia đình Phật tử – Một giá trị của Phật giáo Việt Nam Mong rằng tổ chức “Gia đình Phật tử”, với vai trò là một thành quả lớn của Phật giáo Việt Nam trong việc tổ chức tín đồ được nhận thức đúng mức, là động lực thúc đẩy “Gia đình Phật tử” phát triển hơn trong những ngày tháng sắp tới. Xem thêm Xem thêm Sữa Dưỡng Thể The Face Shop Tốt Nhất, Gel Dưỡng Thể Chăm Sóc Da Toàn Thân Vấn đềGia đình Phật tử là tổ chức tập họp thanh thiếu niên nhi đồng Phật tử lâu đời của Phật giáo Việt nhiên, có một số tu sĩ và tín đồ Phật giáo không hề nhận thức được vai trò, giá trị của tổ chức “Gia đình Phật tử”. Thậm chí, có người nhận là Phật tử nhưng khi được hỏi về tổ chức “Gia đình Phật tử” thì không hề biết gì!Tình trạng như thế đã có từ rất lâu trước năm 1975, không phải là vấn đề mới đình tôi theo đạo Phật thuần thành. Bà tôi thường dẫn tôi đi chùa Từ Nghiêm quận 10, TPHCM, ngày rằm, mùng một hàng tháng, nhưng chưa bao giờ nói với tôi việc tham gia sinh hoạt “Gia đình Phật tử”.Cho đến năm 1978, khi bước vào tuổi thiếu niên, tự mình đi chùa Ấn Quang, xa nhà hơn, học đạo với vị thượng tọa mang tiếng là Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, tôi chưa bao giờ được nghe nói về tổ chức “Gia đình Phật tử”.Đi chùa trụ sở trung ương của Giáo hội lúc bấy giờ ở miền Nam, nơi đặt Tổng vụ Thanh niên, tôi chỉ biết “Gia đình Phật tử” qua sách báo còn lại, qua hình ảnh, lời kể, chưa được thấy một đoàn sinh “Gia đình Phật tử” người thật bằng xương bằng mãi đến lễ Phật đản, tôi mới thấy tận mắt thế nào là một đoàn sinh “Gia đình Phật tử” !Tới đó rồi thôi, vì hồi ấy các chùa trong quận 10 không có “Gia đình Phật tử”, nên một thanh niên Phật tử như tôi chỉ… nhìn thấy mỗi năm 1-2 lần ở trụ sở trung ương Giáo quan trọng là các vị tôn đức giáo phẩm, tăng ni, Phật tử mà tôi có dịp tiếp xúc xem đây là việc bình thường, đương nhiên, không có gì băn khoăn, lo lắng, lưu tâm, không có mục tiêu gì để phát triển “Gia đình Phật tử” hết, kể cả vị lãnh đạo Tổng vụ Thanh năm vào mùa Phật đản Tổng vụ Thanh niên được giao nhiệm vụ đi thăm tháp Bồ tát Quảng Đức, tượng đài Nữ thánh tử đạo Quách Thị Trang, thì các đệ tử thanh niên của thượng tọa Tổng vụ trưởng lo, có một số Phật tử chúng trẻ đi theo. Đó cũng được xem là chuyện bình thường đoàn “Tổng vụ Thanh niên” không hề có “Gia đình Phật tử”. “Gia đình Phật tử” đã như một tổ chức biệt lập, xa vời!Sau này, tôi đi chùa Hưng Long, Quận 10, tình trạng cũng như thế. Mỗi đêm tụng kinh 5-7 Phật tử, sám hối được 15-20 người toàn phụ nữ từ trung niên trở lên không thấy “Gia đình Phật tử”, tôi đi vì có một người chị hàng xóm cứ rủ đi tụng kinh 10, nơi tôi ở được coi là quận Phật giáo, vì có những chùa lớn như Ấn Quang, Hưng Long, Từ Nghiêm, Pháp Hội… rơi vào tình trạng không có bóng dáng đoàn sinh “Gia đình Phật tử” ở chùa chiền như khi khu lân cận khu tôi ở, trên đường Nguyễn Tiểu La, đường Bà Hạt, nhiều nhiều Bắc di cư đạo Ca tô La Mã, thì thường xuyên thấy thành viên tổ chức Thiếu niên Thánh thể, khăn quàng xanh, chủ nhật đi sinh hoạt nhiều đoàn đông đảo. Điều này kéo dài nhiều năm sau 1975. Sau đó nữa, bạn hàng xóm tôi vẫn đi sinh hoạt Thiếu nhi Thánh thể, chỉ có khác là không thắt khăn quàng xanh. Ở quận 10, tổ chức Thiếu nhi Thánh thể vẫn tồn tại liên tục xuyên qua thời điểm 1975, dù trở nên “bán chính thức”, không đeo khăn quàng trương cờ xí, dựng bảng. Thiếu nhi Thánh thể vẫn mặc đồng phục áo trắng, vẫn di chuyển hàng đoàn…Tình trạng người Phật giáo ở quận 10 một phần đáng kể không biết, không quan tâm đến “Gia đình Phật tử”, không có cái nhìn so sánh đối với tổ chức thanh thiếu niên tôn giáo có lẽ kéo dài đến cũng là tình trạng ở nhiều nơi. Sau năm 1981, đối với phần đông tăng ni Phật tử mà tôi có dịp tiếp xúc, nói tới “Gia đình Phật tử” là chuyện cấm kỵ. Người đã biết thì không muốn biết nữa kể cả vị lãnh đạo Phật sự thanh niên lúc thập niên 1990, 2000 tôi có thấy lại đoàn sinh “Gia đình Phật tử” ở quận 10, nhưng dường như nhiều tăng ni Phật tử vẫn ngại hay không muốn nhắc đến.“Gia đình Phật tử” đối với một số tăng ni Phật tử vẫn là hiện tượng tách biệt, xa lạ, không cần thiết, không nghĩ đến. Điều này là tất yếu, là đương nhiên vì trong những năm 1970, thượng tọa Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên cũng nghĩ thế. Cũng không hề có sự tìm hiểu nghiên cứu so sánh tôn giáo học trong tổ chức thanh vậy, trong một thời gian dài, trong lãnh vực tín đồ thanh niên nói chung, tổ chức thanh niên tôn giáo nói riêng, Phật giáo đã là một tôn giáo thiểu khía cạnh về giá trị của tổ chức “Gia đình Phật tử” đối với Phật giáo Việt NamTác động hoằng pháp trong đối tượng thanh thiếu niên là hiển nhiên, rõ ràng, tương đối dễ nhận thấy, nên chúng tôi sẽ bàn luận sau khi có đây, xin nhấn mạnh đến chiều kích tổ chức đội một tôn giáo, Phật giáo, cũng như các tôn giáo, đều có tín có một điều khác biệt rất lớn, là tín đồ Phật giáo về cơ bản là tín đồ phi tổ với đạo Ca tô La Mã, giáo hội của họ gồm cả tín đồ, tổ chức theo đơn vị giáo xứ, có bộ máy điều hành chặt chẽ, có kiểm tra đôn đốc, xen lẫn với sự ràng là một dạng quần chúng tổ chức an organized mass.Nói quần chúng tổ chức là để phân biệt với quần chúng phi tổ chức, còn được gọi là quần chúng tâm lý a psychological mass.Đối với tôn giáo, quần chúng có tổ chức ngoài sự liên kết do niềm tin và thực hành tôn giáo còn có liên kết do bộ máy tổ chức, có hệ thống nhân sự lãnh đạo với quy định chặt quần chúng tâm lý chỉ có liên kết tôn giáo, tín ngưỡng, chung một niềm tin, nhưng không có liên kết tổ chức. Do vậy, tín đồ Phật giáo rời rạc, cục bộ, thiếu đoàn kết, dễ phát sinh chia rẽ, phân rồi giáo hội Phật giáo, thực chất chỉ là tổ chức của tu sĩ, với một sự liên kết lỏng lẻo, hình thức, thiếu thực chất, ít quyền 1975, có các hội đoàn Phật tử, chẳng hạn như Hội Phật học Nam Việt. Tuy nhiên, tỷ lệ hội viên là rất thấp trên tổng số Phật tử, không thể hiện diện mạo tín đồ Phật giáo Việt tổ chức theo địa phương, các đạo tràng Phật tử không tạo nên sự liên kết tổ chức. Ai đi chùa nào cũng được, rất tự do, thôi không đi thì không có việc gì đáng nói hết, tức là không có kỷ luật, kiểm soát, giám nhà lãnh đạo Phật giáo Việt Nam, qua phong trào Chấn hưng Phật giáo đã thấy được điều này. Do đó, việc hình thành liên kết tổ chức, tạo nên tu sĩ tín đồ mang tính chất quần chúng tổ chức, vượt lên giới hạn quần chúng tâm lý, đã là một mục tiêu lớn của Chấn hưng Phật trong những tiến trình trong Chấn hưng Phật giáo là xây dựng, hình thành, hoàn thiện, nâng cao các tổ chức, cố gắng tạo ra những liên kết tổ hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, rồi Giáo hội Phật giáo Việt Nam là kết quả của việc thực hiện mục tiêu liên kết tổ chức, nhưng chỉ giới hạn ở thành phần tu sĩ và thành quả chỉ ở bước đầu, vì như đã nói, liên kết chưa chặt chẽ, chưa có giáo quyền từ khía cạnh liên kết tín đồ thì tổ chức“Gia đình Phật tử” là liên kết tổ chức thành công nhất của Phật giáo Việt mặt tổ chức quần chúng thì “Gia đình Phật tử” đã đạt đến mức quần chúng tổ chức, ngoài giáo lý, niềm tin tôn giáo, đã có bộ máy tổ chức, có kỷ luật, có giám sát, dù còn ở mức tự sĩ tham gia giáo hội hiện nay có khi vì hoàn cảnh, miễn cưỡng. Khi có được vị trí ổn định nào đó như yêu cầu, thì có thể thôi sinh hoạt, chỉ lo việc tư, liên kết chỉ còn trên danh giữa thanh thiếu niên tham gia “Gia đình Phật tử” và các vị huynh trưởng là mối liên kết, tổ chức khá ổn định, khá bền vững, có tính tự nguyện rất tôi, mối liên kết tổ chức trong “Gia đình Phật tử” là liên kết tổ chức tín đồ đạt mức tốt nhất mà Phật giáo Việt Nam xây dựng được trong lịch sử 2000 năm phát triển của độ tốt nhất đó có được nhờ hoạt động đoàn ngũ hóa có mang màu sắc hướng đạo đến từ phương Tây, được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào hoàn cảnh Phật không có tổ chức “Gia đình Phật tử”, thì cố gắng liên kết tổ chức quần chúng Phật tử đạt mức quần chúng tổ chức không còn gì đáng kể tràng, Phật tử các chùa, thanh niên Phật tử dạng câu lạc bộ chỉ là sự tạo nhóm, kết bạn, là quần chúng tâm lý, không phải là quần chúng tổ chức, liên kết lỏng lẻo, phi tổ chức.“Gia đình Phật tử” cũng đã tỏ ra khá bền vững, vượt qua những giai đoạn khó khăn nhất của Phật giáo Việt Nam hiện kết chặt chẽ, xây dựng được hình thái tổ chức, bền bĩ chịu đựng, vượt qua thử thách, tổ chức “Gia đình Phật tử” đã là một thành quả sáng chói của Phật giáo Việt Nam trong tiến trình xây dựng đội ngũ quần chúng tổ chức, làm nên giá trị đặc biệt quan trọng của Phật giáo Việt rằng, đà phát triển này đã chững lại, mà như đã nói, từ những năm 1970, do nhận thức của không chỉ tăng ni Phật tử mà ngay cả ở cấp giáo phẩm lãnh đạo, thậm chí ở vị chuyên trách về lãnh vực thanh thiếu niên.“Gia đình Phật tử” phát triển chững lại, giới hạn trước hết là do nguyên nhân từ chính Phật viết này hướng tới mục tiêu chỉ ra một trong những khía cạnh làm nên giá trị của tổ chức “Gia đình Phật tử” Việt rằng tổ chức “Gia đình Phật tử”, với vai trò là một thành quả lớn của Phật giáo Việt Nam trong việc tổ chức tín đồ được nhận thức đúng mức, là động lực thúc đẩy “Gia đình Phật tử” phát triển hơn trong những ngày tháng sắp tới.
Ngày xưa, lúc mới vào sinh hoạt Gia Đình Phật Tử GĐPT, tôi thường tìm đọc các tác phẩm của Anh Võ Đình Cường như Thử hòa điệu sống, Những cặp kính màu, Đây Gia đình hoặc tác phẩm Sứ mệnh Gia Đình Phật Tử của tác giả Lữ Hồ, hay những tác phẩm của Anh Như Tâm Nguyễn Khắc Từ một cụm từ mà tôi thường đọc được, đó là cụm từ “Lý tưởng Gia Đình Phật Tử”. Nói thật, lúc đó tôi không hiểu lý tưởng GĐPT là gì, chỉ mơ hồ biết đó là một cái gì cao quý mà bất cứ đoàn viên GĐPT nào cũng mơ ước và tôn đang xem Gia đình phật tử là gìSau này, suốt mấy chục năm đi sinh hoạt GĐPT, tôi không lúc nào ngơi nghỉ suy tư, quán chiếu tìm hiểu thế nào là lý tưởng GĐPT. Rồi dần dần theo năm tháng, giống như một trái cây trên cành đã đến lúc chín muồi, cái nghĩa lý của cụm từ “Lý tưởng GĐPT” hiện hình dần trong tâm thức tôi. Cho đến hôm nay, ở tuổi “thất thập cổ lai hi” tôi tự thấy mình đã có đủ tự tin để chia sẻ đề tài này đến các anh chị huynh trưởng trẻ, nhằm mục đích giúp các anh chị sớm hiểu về lý tưởng của mình để kiên định con đường mình đang đi, để đủ sức vượt qua những khó khăn thử thách trong cuộc đời làm huynh trưởng GĐPT, từ đó có thể hoàn thành lý tưởng và kết thúc vẻ vang sự nghiệp cao quý trong cuộc đời huynh trưởng của chúng LụcLÝ TƯỞNG LÀ GÌ?Trước khi tìm hiểu về Lý tưởng GĐPT, chúng ta cần hiểu từ “Lý tưởng” là mơ phải cao đẹp và vĩ đại thì mới được gọi là lý nào là cao đẹp và cĩ đại ?Đó là khi ước mơ ấy mang mục đích lợi ích chân chánh cho nhân quần xã hội. Thí dụ Thái tử Tất Đạt Đa ước mơ thành Phật để cứu độ tất cả chúng sanh thoát khỏi đau khổNhà cách mạng ước mơ đánh đuổi ngoại xâm, giành độc lập cho Tổ QuốcƯớc mơ sau này trở thành bác sĩ để cứu người thoát khỏi bệnh tậtƯớc mơ trở thành một nhà đại doanh nhân làm giàu cho đất nướcƯớc mơ trở thành nhà chính trị lỗi lạc lãnh đạo đất nước đi lên sánh vai cùng các cường quốc trên thế giới. Vân vân…LÝ TƯỞNG GIA ĐÌNH PHẬT TỬ LÀ GÌ?Là đoàn viên GĐPT, không ai trong chúng ta không biết về mục đích của tổ chức GĐPT là “… đào luyện thanh thiếu đồng niên tin Phật trở thành Phật tử chân chánh, góp phần phụng sự đạo pháp và xây dựng xã hội” Để hoàn thành mục đích của tổ chức, người huynh trưởng phải nỗ lực hoàn thành ba việc lớn có ý nghĩa lợi ích thiết thực cho bản thân , cho đạo pháp và cho xã hộiMột là tự tu học và hướng dẫn đoàn sinh tu học để trở thành người Phật tử chân chánh, tức là hạng người có giá trị về mặt tài năng và đạo đức trong xã hội, là những công dân gương mẫu của đất nước Việt là đem đạo đức và tài năng của mình ra phụng sự đạo pháp, tức là làm cho Phật pháp chân chánh phát triển rực rỡ không giới hạn không gian, thời gian,Ba là cống hiến cho xã hội những giá trị mà mình có được do tu tập nhiều năm theo Phật pháp, nghĩa là góp phần xây dựng một xã hội đạo đức an vui, đem trí tuệ và hạnh tinh tấn ra xây dựng xã hội ấm no hạnh thêm X-23 Là Ai - Wolverine Trở Lại, Nhưng Thay Thế XBa việc lớn nêu trên có mang ý nghĩa cao quý không ? – Có !Ba việc lớn trên đây có đem lợi ích cho nhân quần xã hội không ? – Có !Hoàn thành tốt đẹp ba việc trên đây tức là chu toàn Lý tưởng Gia Đình Phật Tử rồi vậy.
gia đình phật tử là gì