giải phẫu bệnh basedow

Nhưng sau đó, bệnh vẫn tái phát trở lại. Sau khi cắt tuyến giáp, chị vẫn thường xuyên bị hồi hộp, tim đập nhanh, tăng huyết áp, uống thuốc vẫn không khỏi. Đến năm 35 tuổi, chị tìm đến các trung tâm hỗ trợ sinh sản, dùng phương pháp thụ tinh nhân tạo, thụ tinh trong Trang chủ » Sống khỏe » Bệnh về mắt » "Giải cứu" đôi mắt nhìn mờ nhờ phẫu thuật đục thủy tinh thể 20/10/2022 Tác giả: Mai Anh 22 lượt xem Đục thủy tinh thể là bệnh lý nhãn khoa nguy hiểm hàng đầu, có thể dẫn tới mù lòa vĩnh viễn. Khoa Nội tiết được thành lập năm 2015. Khoa gồm có 4 phòng điều trị theo yêu cầu, 10 phòng bệnh; 35 giường bệnh kế hoạch, trong đó thực kê 44 giường bệnh, trong đó có 8 giường yêu cầu. Hàng năm tiếp nhận điều trị cho hơn 1.400 lượt người mắc các bệnh về đái tháo đường, basedow, suy giáp và các bệnh Điều trị Basedow bằng phẫu thuật: Mục đích của phẫu thuật là cắt bỏ một phần tuyến giáp, chỉ giữ lại một phần nhỏ để duy trì chức năng sản xuất hormon. Phẫu thuật tuyến giáp sẽ đem đến cho những người mắc bệnh basedow một cách chữa trị nhanh chóng và hiệu quả. Mặc dù bệnh nhân có thể sẽ cần chuyển từ việc uống thuốc chống tuyến giáp sang bổ sung hormone tuyến giáp nếu phẫu thuật cắt trọn tuyến giáp, các triệu chứng khó chịu nhìn chung không còn nữa. Khi tiến hành mổ, cần phải chú ý: chỉ nên phẫu thuật cho những bệnh nhân Basedow trong giai đoạn ổn định: Mạch trở lại bình thường: 70-80 lần/phút. Chuyển hóa cơ bản giảm xuống tới mức độ tương đối bình thường: ± 15%. Basedow đã có cơn độc giáp trạng cần được Vay Tienonline Me. Basedow là một trong những bệnh lí cường giáp thường gặp trên lâm sàng với các biểu hiện chính nhiễm độc giáp kèm bướu giáp lớn lan tỏa, lồi mắt và tổn thương ở ngoại biên. Biên tập viên Trần Tiến Phong Đánh giá Trần Trà My, Trần Phương Phương Định nghĩa Basedow là một trong những bệnh lí cường giáp thường gặp trên lâm sàng với các biểu hiện chính nhiễm độc giáp kèm bướu giáp lớn lan tỏa, lồi mắt và tổn thương ở ngoại biên. Bệnh Basedow mang nhiều tên gọi khác nhau Bệnh Graves. Bệnh Parry. Bướu giáp độc lan tỏa. Bệnh cường giáp tự miễn. Nhờ sự tiến bộ của miễn dịch học, ngày càng nhiều kháng thể hiện diện trong huyết tương người bệnh được phát hiện, vì thế hiện nay bệnh được xếp vào nhóm bệnh liên quan tự miễn. Bệnh nguyên Bệnh xảy ra ở mọi độ tuổi, nhất là độ tuổi 20 - 40 tuổi, ưu thế ở phụ nữ, tỉ lệ nam / nữ = 1/5 - 1/7 ở vùng không bị bướu cổ địa phương. Tuy nhiên, ở vùng dịch tể tỉ lệ này thấp hơn. Theo Volpé có lẽ liên quan đến sự khiếm khuyết của tế bào lympho T ức chế, là yếu tố cơ bản trong bệnh lí tự miễn ở tuyến giáp. Một vài yếu tố ghi nhận có thể gây đáp ứng miễn dịch trong Basedow như Thai nghén nhất là giai đoạn chu sinh hậu sản. Dùng nhiều iod, đặc biệt dân cư sống trong vùng thiếu iod, có thể iod làm khởi phát bệnh Basedow tiềm tàng. Dùng lithium làm thay đổi đáp ứng miễn dịch. Nhiễm trùng và nhiễm virus. Ngừng corticoid đột ngột. Người có HLA B8, DR3 dân vùng Caucase HLA BW 46, B5 Trung Quốc và HLA B17 da đen. Vai trò Stress chưa được khẳng định. Liên quan di truyền với 15% bệnh nhân có người thân mắc bệnh tương tự và khoảng chừng 50% người thân của bệnh nhân có tự kháng thể kháng giáp trong máu. Bệnh sinh Có sự khiếm khuyết của tế bào lympho T ức chế Ts, T8, cho phép tế bào lympho T hỗ trợ T H kích thích tế bào lympho B tổng hợp các kháng thể chống lại tuyến giáp. Globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp TSI Thyroid stimulating immunoglobulin hoặc TSH. R Ab Stim kháng thể kích thích thụ thể TSH gây tình trạng nhiễm độc giáp. Ngoài ra còn tìm thấy nhiều loại kháng thể kháng thyroglobulin, kháng thể kháng enzyme Peroxydase giáp hoặc kháng thể kháng tiêu thể. Ngoài ra tiến trình viêm nhiễm cơ hốc mắt do sự nhạy cảm của các tế bào lympho T độc tế bào cytotoxic T lymphocyte hoặc các tế bào giết killer cell đối với kháng nguyên hốc mắt trong sự kết hợp với các kháng thể độc tế bào. Tuyến giáp và mắt có thể có liên quan bởi một kháng nguyên chung giữa tuyến giáp và nguyên bào hốc mắt. Tuy nhiên vẫn chưa rõ là làm sao gây ra dòng thác miễn dịch này. Tại tuyến giáp Các tế bào lympho T trở nên nhạy cảm với các kháng nguyên trong tuyến giáp và kích thích các tế bào lympho B tổng hợp kháng thể chống lại các kháng nguyên này. Kháng thể trực tiếp chống lại thụ thể TSH ở màng tế bào giáp và có khả năng kích thích tế bào tuyến giáp phát triển và tăng hoạt hoạt kháng thể kích thích thụ thể TSH. Điều này có thể liên quan đến di truyền nằm bên dưới, nhưng vẫn chưa giải thích được lí do là làm thế nào “giai đoạn cấp” xảy ra. Tại mắt Tế bào lympho độc tế bào Cytotoxic Lymphocyte còn gọi Killer cells và các kháng thể độc tế bào Cytotoxic Antibodies nhạy cảm với các kháng nguyên chung Commun - Antigen trong nguyên bào sợi ở hốc mắt Orbital fibroblast, cơ hốc mắt và tổ chức tuyến giáp. Các cytokin từ các tế bào lympho này đã được mẩn cảm có thể gây viêm nguyên bào sợi ở hốc mắt và viêm cơ hốc mắt. Kết quả làm sưng hốc mắt, lồi nhãn cầu, chứng nhìn đôi, đỏ, sung huyết và phù kết mạc, phù quanh hốc mắt bệnh lí lồi mắt tuyến giáp. Biểu hiện ở da và đầu chi Phù niêm ở mặt trước xương chày và thương tổn quanh màng xương ở đầu các ngón tay và đầu các ngón chân bệnh khớp giáp trạng cũng có thể liên quan cytokin của các tế bào lympho kích thích nguyên bào sợi ở các vị trí này. Ngoài ra các triệu chứng của nhiễm độc giáp trước đây người ta cho là hậu quả của chất catecholamine tăng cao trong máu như nhịp tim nhanh, run tay đổ mồ hôi, co kéo mí mắt, nhìn chăm chú. Định lượng nồng độ epinephrine lưu hành ở trong giới hạn bình thường, vì vậy có thể giải thích trong bệnh Basedow làm cho cơ thể tăng nhạy cảm với các catecholamine. Điều này một phần do sự gia tăng các thụ thể catecholamine ở tim và một số cơ quan khác. Triệu chứng lâm sàng Chia làm 2 nhóm hội chứng lớn, đó là biểu hiện tại tuyến giáp và ngoài tuyến giáp. Tại tuyến giáp Bướu giáp Bướu giáp lớn, thường lan tỏa, tương đối đều, mềm, đàn hồi hoặc hơi cứng, có thể có rung miu tâm thu, thổi tâm thu tại bướu, nếu bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan lân cận. Một số biểu hiện rối loạn vận mạch vùng cổ đỏ, da nóng, tăng tiết mồ hôi, vẫn có một tỉ lệ nhỏ bệnh nhân không có bướu giáp lớn liên quan kháng thể. Hội chứng nhiễm độc giáp Các dấu chứng này thường tỉ lệ với nồng độ hormon giáp với nhiều cơ quan bị ảnh hưởng. Tim mạch Hồi hộp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp khó thở khi gắng sức lẫn khi nghỉ ngơi. Ở các động mạch lớn, mạch nhảy nhanh và nghe tiếng thổi tâm thu, huyết áp tâm thu gia tăng tăng cung lượng tim so với huyết áp tâm trương, hiệu áp gia tăng, trường hợp nặng suy tim loạn nhịp, phù phổi, gan to, phù hai chi dưới. Thần kinh cơ Run rõ ở bàn tay là triệu chứng dễ nhận biết và nổi bật kèm theo yếu cơ. Bệnh nhân thường mệt mỏi, dễ kích thích thay đổi tính tình, dễ cảm xúc, nói nhiều, bất an, không tập trung tư tưởng, mất ngủ. Rối loạn vận mạch ngoại vi, mặt khi đỏ khi tái, tăng tiết nhiều mồ hôi, lòng bàn tay, chân ẩm. Phản xạ gân xương có thể bình thường, tăng hoặc giảm. Đặc biệt dấu yếu cơ, teo cơ, dấu ghế đẩu Tabouret, yếu cơ hô hấp gây khó thở, yếu cơ thực quản làm khó nuốt hoặc nói nghẹn. Ở người trẻ tuổi triệu chứng tim mạch thường nổi bật, trong khi người lớn tuổi ưu thế triệu chứng thần kinh và tim mạch. Dấu hiệu tăng chuyển hóa Tăng thân nhiệt, luôn có cảm giác nóng, tắm nhiều lần trong ngày, gầy nhanh, uống nhiều nước, khó chịu nóng, lạnh dễ chịu. Ngoài ra có các biểu hiện rối loạn chuyển hóa calci gây tăng calci máu hoặc hiện tượng loãng xương ở người lớn tuổi sau mãn kinh gây biến chứng, xẹp đốt sống, gãy xương tự nhiên, viêm quanh các khớp. Biểu hiện tiêu hóa ăn nhiều vẫn gầy, tiêu chảy đau bụng, nôn mửa, vàng da. Tiết niệu sinh dục Tiểu nhiều, giảm tình dục, rối loạn kinh nguyệt, vô sinh, liệt dương và chứng vú to nam giới. Da và cơ quan phụ thuộc Ngứa, có biểu hiện rối loạn sắc tố da, có hiện tượng bạch ban ở lưng bàn tay và các chi; tóc khô, hoe, mất tính mềm mại rất dễ rụng; rụng lông; các móng tay, chân giòn dễ gãy. Tuy nhiên cũng cần phân biệt trên lâm sàng hai nhóm triệu chứng để chỉ định điều trị phù hợp. Thần kinh giao cảm Nhịp tim nhanh, run tay, tăng huyết áp tâm thu, tăng phản xạ, khóe mắt rộng, nhìn chăm chú, hồi hộp, trầm cảm, kích thích và lo âu. Nhiễm độc giáp Tăng tiêu thụ oxy, ăn nhiều, sụt cân, rối loạn tâm thần, nhịp nhanh, tăng co bóp cơ tim, giảm đề kháng hệ thống mạch máu. Biểu hiện ngoài tuyến giáp Thương tổn mắt Thường hay gặp là lồi mắt. Có 2 loại lồi mắt giả và lồi mắt thật lồi mắt nội tiết, có thể không liên quan đến mức độ nhiễm độc giáp hoặc độc lập với điều trị. Vì thế có thể xảy ra sau quá trình điều trị nhất là phẫu thuật hoặc điều trị phóng xạ. Lồi mắt giả Tổn thương không thâm nhiễm liên quan đến bất thường về chức năng do tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm, tăng thyroxin gây tăng co kéo cơ nâng mi làm khoé mắt rộng ra. Lồi mắt thật lồi mắt nội tiết Tổn thương thâm nhiễm liên quan đến các thành phần hốc mắt gây bệnh mắt nội tiết trong bối cảnh tự miễn trong bệnh Basedow gây thương tổn cơ vận nhãn và tổ chức sau hốc mắt. Bệnh lí mắt thường phối hợp gia tăng nồng độ kháng thể kháng thụ thể TSH kích thích. Theo phân loại của Hội giáp trạng Mỹ American Thyroid Association các biểu hiện ở mắt được phân độ như sau Độ 0 Không có dấu hiệu và triệu chứng. Độ I Không có triệu chứng, có dấu co kéo mi trên, mất đồng vận giữa nhãn cầu và trán, giữa nhãn cầu và mi trên ưu thế triệu chứng này liên quan đến nhiễm độc giáp, hồi phục sau khi bình giáp. Độ II Ngoài các dấu hiệu của độ I, còn có cảm giác dị vật ở trong mắt, sợ ánh sáng Photophobie, chảy nước mắt, phù mí mắt, sung huyết và sưng kết mạc... thâm nhiễm cơ và tổ chức hốc mắt, nhất là tổ chức quanh hốc mắt. Độ III Lồi mắt thật sự, dựa vào độ lồi nhãn cầu do tẩm nhuận sau tổ chức hốc mắt tẩm nhuận hốc mắt từ 3 - 4mm lồi nhẹû; từ 5-7mm lồi vừa và 8mm lồi nặng. Cần lưu ý về phương diện lâm sàng nên dựa vào yếu tố chủng tộc để đánh giá vì độ lồi nhãn cầu bình thường đánh giá qua thước Hertel của người da vàng là 16-18mm, da trắng 18-20mm và da đen 20-22mm.. Độ IV Thương tổn cơ vận nhãn. Độ V Thương tổn giác mạc. Độ VI Giảm hoặc mất thị lực do thương tổn thần kinh thị. Để đánh giá một cách tương đối trung thực về sự tẩm nhuận sau hốc mắt cũng như đánh giá điều trị cần siêu âm nhãn cầu. Phù niêm Tỉ lệ gặp 2-3%, thường định vị ở mặt trước cẳng chân, dưới đầu gối, có tính chất đối xứng. Vùng thương tổn dày không thể kéo lên có đường kính vài cm, có giới hạn. Da vùng thương tổn hồng, bóng, thâm nhiễm cứng da heo, lỗ chân lông nổi lên, mọc thưa, lông dựng đứng da cam, bài tiết nhiều mồ hôi. Đôi khi thương tổn lan tỏa từ chi dưới đến bàn chân. To các đầu chi Đầu các ngón tay và các ngón chân biến dạng hình dùi trống, liên quan đến màng xương, có thể có phản ứng tổ chức mềm, tái và nhiệt độ bình thường phân biệt với bệnh phổi mạn. Ngoài ra có dấu chứng tiêu móng tay onycholysis. Ngoài các biểu hiện trên còn tìm thấy một số dấu hiệu của các bệnh lí tự miễn phối hợp khác đi kèm như suy vỏ thượng thận, suy phó giáp, tiểu đường, nhược cơ nặng, trong bối cảnh bệnh đa nội tiết tự miễn. Xét nghiệm miễn dịch Hiện diện trong máu bệnh nhân một số kháng thể chống lại tuyến giáp như Kháng thể kích thích thụ thể TSH đặc hiệu của bệnh Basedow. Kháng thể kháng enzym peroxydase giáp TPO. Kháng thể kháng thyroglobulin Tg, không đặc hiệu vì có thể gặp trong bệnh Hashimoto. Kháng thể kháng vi tiểu thể MIC. Điều này nói lên một số trường hợp kém đáp ứng với thuốc kháng giáp. Sự hiện diện các loại kháng thể trên còn gặp ở một số bệnh tự miễn tuyến giáp khác như Hashimoto, bướu giáp đơn, bướu giáp nhân, u tuyến giáp với tỉí lệ thay đổi. Xét nghiệm đánh giá chức năng cường giáp Gia tăng nồng độ hormon giáp trong huyết tương T3 95-190 ng/ dl = 1,5-2,9 nmol/l tăng. FT3 0,2- 0,52 ng/ dl = 3- 8 pmol/ l tăng. T4 5 - 12 g / dl = 64 - 154 nmol/ l tăng. FT4 0,9 - 2 ng / dl = 12 - 26 pmol / l tăng. Tỷ T3 ng % /T4 microgam % trên 20 đánh giá bệnh tiến triển TSH siêu nhạy 0,5 - 4,5 U/ ml giảm. Độ tập trung I131 tại tuyến giáp sau 24 giờ tăng cao hơn bình thường, giai đoạn bệnh toàn phát có góc thoát góc chạy. Lưu ý một số thuốc kháng giáp cũng gây hiện tượng này nhóm carbimazole. Nên đánh giá vào các thời điểm 4, 6 và 24 giờ. Test Werner thường sử dụng trong giai đoạn sớm, để phân biệt với những trường hợp có độ tập trung iod phóng xạ cao bướu đơn háo Iod, u tuyến giáp độc. Hiện nay ít dùng vì đã có TSH siêu nhạy và chụp nhấp nháy tuyến giáp. Test TRH và test Querido kích thích tuyến giáp bằng TSH hiện nay ít được chỉ định. Xét nghiệm hình thái và cấu trúc tuyến giáp Siêu âm tuyến giáp Tuyến giáp phì đại, eo tuyến dày, cấu trúc không đồng nhất, giảm âm nhầm viêm tuyến giáp. Siêu âm Doppler năng lượng có thể thấy hình ảnh cấu trúc tuyến giáp hỗn loạn như hình ảnh đám cháy trong thời kì tâm thu và tâm trương với các mạch máu giãn trong tuyến giáp, động mạch cảnh nhất là động mạch cảnh ngoài nảy mạnh, động mạch cảnh nhảy múa. Trong nhiều trường hợp không điển hình khởi đầu hoặc điều trị khó phân biệt với hình ảnh của Hashimoto. Xạ hình tuyến giáp chụp nhấp nháy tuyến giáp giúp xác định phần nào hình thái và chức năng tuyến giáp với I123 hoặc Tc 99m chất phóng xạ tập trung đồng đều toàn bộ hai thùy tuyến giáp - tuyến giáp phì đại - giúp phân biệt các thương tổn của các bệnh lí cường giáp khác bướu giáp độc đa nhân, bướu giáp độc, viêm tuyến giáp.... Chụp cắt lớp tuyến giáp CT Scanner và MRI ít được sử dụng trong chẩn đoán và cấu trúc ít khác biệt so với một số bệnh lí viêm tuyến giáp. Hình ảnh giải phẫu bệnh Tuyến giáp lớn đều cả hai thùy, tính chất lan tỏa, mềm và tân sinh nhiều mạch máu. Nhu mô giáp phì đại và tăng sản, gia tăng chiều cao của tế bào thượng bì và thừa lên vách nang tuyến, tạo ra các nếp gấp dạng nhú phản ánh tế bào tăng hoạt động. Sự loạn sản như trên thường kèm thâm nhiễm tế bào lympho, điều này phản ánh bản chất miễn dịch của bệnh và liên quan đến nồng độ kháng thể kháng giáp trong máu. Thăm dò thương tổn mắt Đo độ lồi nhãn cầu bằng thước HERTEL đi từ bề ngoài hốc mắt đến mặt phẳng tiếp tuyến mặt trước nhãn cầu phương pháp đơn giản, thực hiện nhiều lần, trị số thay đổi. Hạn chế của phương pháp này là không đánh giá trực tiếp thương tổn tẩm nhuận sau hốc mắt. Tìm kiếm dấu viêm giác mạc. Khám đáy mắt; đo trương lực nhãn cầu. Chụp cắt lớp vùng hốc mắt nhằm phát hiện sớm các bất thường ở hốc mắt, cơ vận nhãn, thần kinh thị giác khi chưa biểu hiện lâm sàng giai đoạn tiền lâm sàng và giúp phân biệt các nguyên nhân gây lồi mắt khác. Siêu âm mắt đánh giá bất thường cơ vận nhãn và tổ chức hậu nhãn cầu có thể đo được bề dày của tổ chức tẩm nhuận sau hốc mắt. Xét nghiệm thương tổn da Sinh thiết vùng phù mềm trước xương chày, nhuộm. PAS + có sự lắng đọng chất glycosaminoglycan. Chụp X quang xương đầu chi Màng xương dày Chẩn đoán Thể điển hình Gặp ở phụ nữ trẻ với đầy đủ các dấu chứng lâm sàng như trên. Thể triệu chứng Ưu thế một số cơ quan Biểu hiện tim. Biểu hiện thần kinh. Biểu hiện cơ. Nhược cơ nặng và Basedow. Bệnh xương nhiễm độc giáp. Biểu hiện tiêu hóa. Basedow và nôn mửa. Biểu hiện huyết học. Thể vú to và Basedow. Basedow và tăng cân. Thể liên quan nguyên nhân Phối hợp với các bệnh lí tự miễn khác. Suy vỏ thượng thận và Basedow. Đái tháo đường và Basedow. Các thể sinh học Tăng T3 chủ yếu. Tăng T4 chủ yếu. Các thể tiến triển Thể điển hình Trở về bình giáp sau điều trị. Thể thoái triển tự phát 10-20% Thể cấp và bán cấp Trong thể bán cấp thường phối hợp với dấu gầy nhiều, tiêu chảy, rối loạn nhịp tim, có sốt và biểu hiện tâm thần; thể cấp thường xảy ra do sai lầm điều trị, đặc biệt chuẩn bị nội khoa không tốt ở bệnh nhân có chỉ định phẩu thuật. Thể vô tình cảm apathies Thường gặp ở người lớn tuổi, bệnh cảnh trội về yếu cơ, liệt, chán ăn và rối loạn nuốt. Thường chẩn đoán khó. Chẩn đoán phân biệt Teo cơ trong trường hợp bệnh cơ nặng cần phân biệt bệnh cơ nguyên phát. Liệt chu kì giáp trạng thường xảy ra ở phụ nữ Châu Á, gây liệt đột ngột và giảm kali máu, đôi khi xảy ra tự phát, có thể dự phòng bằng dùng kali và thuốc ức chế β. Tim trong cường giáp khởi đầu loạn nhịp có hồi phục, không đáp ứng với digoxin, kèm tăng cung lượng tim. Khoảng 50% không có bệnh líï tim tiềm tàng, bệnh đáp ứng với thuốc kháng giáp. Người lớn tuổi biểu hiện sụt cân, bướu giáp không lớn, rung nhĩ chậm và trầm cảm nặng gọi là cường giáp vô tình cảm = apathic hyperthyroidism. Người phụ nữ trẻ đôi khi khởi đầu với mất kinh, vô sinh. Hội chứng cường thyroxin do rối loạn albumin gia đình do có bất thường albumin liên kết chủ yếu với T4, liên kết kém với T3, kết quả tăng T4, FT4I nhưng FT4, FT3 và TSH bình thường, cần phân biệt tình trạng bình giáp trong cường giáp. Biến chứng Do cơ chế bệnh sinh liên quan tự miễn bệnh có thể hồi phục tự phát hoặc do điều trị. Trong quá trình diễn biến bệnh thường gặp hai biến chứng như sau Bệnh cơ tim nhiễm độc giáp Thường biểu hiện dưới 2 dạng Rối loạn nhịp tim. đa dạng với nhịp nhanh xoang, ngoại tâm thu, nhịp nhanh kịch phát trên thất... Suy tim cường giáp. Cần phân biệt 2 giai đoạn 1 Giai đoạn đầu suy tim tăng cung lượng nhịp tim nhanh, huyết áp tăng, cơ tim tăng co bóp... và 2 Giai đoạn sau là thể bệnh cơ tim phù, khó thở, tim lớn, rối loạn nhịp, suy tim, huyết áp giảm, chức năng co bóp tim giảm.... Cơn cường giáp cấp Thường xảy ra ở bệnh nhân không điều trị hoặc điều trị kém. Khởi phát sau một sang chấn phẫu thuật, nhiễm trùng hô hấp, chấn thương, tai biến tim mạch, sau sinh.... Khi điều trị triệt để phẫu thuật, xạ trị liệu không được chuẩn bị tốt. Bệnh cảnh lâm sàng với các triệu chứng Sốt cao 40-41, đổ mồ hôi, mất nước. Nhịp tim rất nhanh, rối loạn nhịp, suy tim, choáng trụy mạch. Run, kích thích, thương tổn cơ rối loạn nuốt, mê sảng, hôn mê. Tiêu chảy, đau bụng, buồn nôn, nôn mửa, vàng da. Có thể gặp cơn bão giáp vô cảm apathetic storm với đặc trưng yếu cơ, vô tình cảm, rối loạn tâm thần. Chẩn đoán dựa vào các dữ kiện lâm sàng được gợi ý. Nên điều trị tích cực ngay, không nên chờ đợi kết quả xét nghiệm. Lồi mắt ác tính. Điều trị nội khoa Hiện nay có nhiều phương pháp và phương tiện điều trị bệnh Bassedow. Việc chọn lựa phương pháp điều trị tuỳ thuộc vào kinh nghiệm của thầy thuốc, điều kiện y tế cơ sở, sự dung nạp và tuân thủ của bệnh nhân trong quá trình điều trị. Dưới đây là một số phương pháp và phương tiện điều trị Nhóm thuôc ức chế tổng hợp hormone giáp Trình bày Thường được sử dụng lâm sàng chia làm 2 loại Carbimazole neomercazole 5mg, Methimazole 5mg Propylthiouracil PTU 50mg, Benzylthiouracil BTU 25mg Cơ chế tác dụng Ức chế phần lớn các giai đoạn tổng hợp hormone giáp Carbimazole ức chế khử iod tuyến giáp. PTU ức chế biến đổi T4 thành T3 ngoại vi. Carbimazole liều cao > 60mg/ ngày có tác dụng ức chế kháng thể kháng giáp giảm trình bày kháng nguyên giáp, giảm phóng thích prostaglandin và cytokin từ tế bào giáp, ức chế sinh sản các gốc tự do từ tế bào T và B đặc biệt tế bào trình bày các kháng nguyên vì thế làm giảm kháng thể. Hiệu quả tác dụng hằng định lượng hormone liên quan đến thời gian nửa đời của T4 và do lượng hormone tích trữ trong tuyến giáp. Hiệu quả sau 1 - 2 tuần, rõ ràng sau 3 - 6 tuần. Liều lượng thuốc kháng giáp tổng hợp Đối với nhóm Thiouracil, thời gian nửa đời khoảng 90 phút, có thể bắt đầu với liều cao chia nhiều lần, khi đạt bình giáp dùng liều độc nhất buổi sáng. PTU 100-150mg/6giờ/ngày. Sau 4 - 8 tuần giảm 50 - 200mg/một hoặc hai lần/ ngày. Đối với nhóm imidazole thời gian nửa đời khoảng 6 giờ, do có tác dụng kháng giáp trên 24 giờ, dùng liều độc nhất buổi sáng bắt đầu 40mg/ ngày trong 1-2 tháng sau đó giảm liều dần 5-20mg. Theo dõi FT4 và TSH. Thời gian điều trị tuỳ thuộc bệnh nguyên và mục đích. Thời gian điều trị thuốc kháng giáp từ 6 tháng đến 15 năm hoặc 20 năm. Tác dụng phụ của thuốc tác dụng phụ khoảng 5% trường hợp biểu hiện tương đối đa dạng. Nhẹ Rối loạn tiêu hóa, phát ban, nổi mề đay, sốt, đau khớp, mất vị giác agneusie, vàng da tắc mật ngừng thuốc, tăng phosphatase kiềm. Tác dụng phụ nặng như Lupus, hội chứng Lyeel, rụng tóc, hội chứng thận hư, thiếu máu, đau đa khớp, đau đa rễ thần kinh, mất vị giác. Giảm bạch cầu trung tính khi bạch cầu trung tính <1200/mm3 - phải ngừng thuốc nếu đe doạ chứng mất bạch cầu hạt, vì thế cần theo dõi sát. Mất bạch cầu hạt Agranulocytose tỷ lệ 0,1% methimazole và 0,5% PTU trường hợp, được xác định khi số lượng tế bào bạch cầu dưới 200/mm3, trên lâm sàng khó nhận biết được, cần báo trước cho bệnh nhân nguy cơ này để phát hiện và điều trị kịp thời. Ngừng bắt buộc thuốc kháng giáp và dùng kháng sinh ngay khi có dấu chứng này nhất là biểu hiện nhiễm trùng, viêm họng. Theo dõi khi sử dụng thuốc kháng giáp Kiểm tra công thức bạch cầu định kì. FT4 và TSH us. Kiểm tra chức năng gan. Một số tiêu chuẩn có thể ngưng thuốc kháng giáp Dùng kháng giáp liều rất nhỏ sau một thời gian không thấy bệnh tái phát trở lại. Thể tích tuyến giáp nhỏ lại khảo sát theo siêu âm thể tích tuyến giáp bình thường 18 - 20cm3. Kháng thể kháng thụ thể TSH kích thích không tìm thấy trong huyết thanh, sau nhiều lần xét nghiệm. Test Werner + Độ tập trung I131 tuyến giáp bị ức chế khi sử dụng Liothyronine T3. Các phương tiện điều trị khác Ức chế vận chuyển iode Chất Thiocyanate và perchlorate ức chế vận chuyên iode nhưng sử dụng thường bất lợi, chỉ trong một vài trường hợp đặc biệt. Iode vô cơ Khi phối hợp lugol thì cần sử dụng thuốc kháng giáp trước đó 1- 2 giờ. Chỉ cần 6mg Iodur đủ ức chế tuyến giáp. Không sử dụng iod vô cơ đơn độc mà cần phối hợp với thuốc kháng giáp đề phòng hiện tượng thoát ức chế. Chỉ định hiện nay đối với iode vô cơ chủ yếu là Chuẩn bị ngắn ngày trước khi phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp và Điều trị cơn bão giáp. Trước đây người ta thường sử dụng iode trong nhiều tháng trên 8 tháng với 62%. Hiện nay liệu trình sử dụng iode trung bình 10 -15 ngày. Chất iopanoic acid và ipodate sodium ipodate 500 mg/ ngày, đường uống có tác dụng ức chế T4 thành T3 và ức chế phóng thích T4, sau 24 giờ ức chế T3. Lithium Thận trọng ở bệnh nhân có bệnh lí tim mạch và rối loạn chuyển hóa, nhất là mất nước liều dùng 300 - 450 mg / 8m giờ và duy trì nồng độ 1 mEq/ xữ dụng khi bệnh nhân dị ứng với Thionamide hoặc iode. Glucocorticoide Dexamethasone liều 2 mg/ 6 giờ có thể ức chế phóng thích hormonee giáp. Thuốc ức chế beta propranolol, atenolol, esmolol Liều propranolol trung bình 20 - 80 mg/ 6 - 8 giờ. Thuốc chống đông Rung nhĩ chiếm tỉ lệ từ 10 - 25% bệnh nhân Basedow, nhất là bệnh nhân lớn tuổi. Warfarin dễ gây xuất huyết sau khi điều trị phóng xạ. Aspirin có chỉ định nhưng thận trọng nếu sử dụng liều cao aspirine làm tăng FT3 và T4 do giảm kết hợp protein. An thần Nên chọn nhóm barbiturate có tác dụng giảm lượng thyroxine do gia tăng thoái biến. Cholestyramine Dùng 4 mg, ngày 4 lần có thể làm giảm T4. Phẫu thuật cắt giảm tuyến giáp gần toàn phần Chỉ định Bệnh tái phát sau nhiều lần điều trị. Tuyến giáp quá lớn. Cường giáp ở phụ nữ có thai đáp ứng kém với điều trị nội khoa. Chuẩn bị trước mổ Tốt nhất nên điều trị nội khoa đạt bình giáp trước khi phẫu thuật. Theo dõi sau mổ Theo dõi mỗi 4 - 6 tuần để phát hiện suy giáp hoặc cường giáp trở lại. Lưu ý có thể có suy giáp nhẹ tự hồi phục trong vòng 4 - 6 tuần. Suy phó giáp khoảng 3%, liệt dây thần kinh quặt ngược vì thế đòi hỏi phẫu thuật viên có kinh nghiệm. Điều trị Iode phóng xạ Dùng I131 tập trung tại tuyến giáp để phá hủy nhu mô tuyến giáp tại chỗ, hiện là phương pháp điều trị được chọn lựa do hiệu quả cao, kinh tế và không có phản ứng phụ nghiêm trọng, chưa có bằng chứng cho rằng điều trị iod phóng xạ ảnh hưởng trên bệnh lí mắt trong Basedow hoặc gia tăng nguy cơ ác tính. Chỉ định Có thể từ 35 tuổi trở lên. Bệnh tái phát nhiều lần - không phẫu thuật được. Khó khăn trong theo dõi người lớn tuổi. Suy tim. Dị ứng thuốc kháng giáp. Trường hợp suy tim, nhiễm độc giáp nặng, tuyến giáp có thể tích lớn trên 100 gam, nên điều trị đạt được bình giáp trước khi điều trị iod phóng xạ. Chống chỉ định Tuyệt đối trường hợp thai nghén, tuy nhiên chưa có bằng chứng cho rằng điều trị iod phóng xạ có thể gây ra một số hậu quả xấu ở tử cung nguy cơ bất thường bẩm sinh thai nhi ở phụ nữ sau khi điều trị phóng xạ và buồng trứng phóng xạ vào buồng trứng rất thấp tương đương với liều thăm dò X quang. Điều trị một số tình huống đặc biệt Điều trị mắt trong bệnh Basedow Thể nhẹ Các biện pháp tại chỗ, dùng nước mắt nhân tạo cho trường hợp khô mắt., nằm đầu cao buổi tối, nhỏ Methyl cellulose 0,5% khi ngủ để bảo vệ giác mạc. Thể nặng Mang kính hoặc băng mắt., Làm ẩm tại chỗ., Kháng sinh., Phẫu thuật khâu sụn mi, Thể ác tính Prednisolone 1,5mg/ kg/ngày chia đều, 4 - 12 tuần, sau đó giảm liều duy trì 5-10 mg/ ngày. Có thể dùng methylprednisone 15mg/kg mỗi 2 tuần, azathioprine hoặc cyclophosphamide hoăc cyclosporine A khi corticoide thất bại. Trích huyết tương hiện nay phương pháp này không sử dụng. Điều trị quang tuyến bên ngoài vào sau hốc mắt liều 2000 C. Gy trong 10 liều với thời gian trong hai tuần. Can thiệp dẫn lưu giảm áp lực nội nhãn, phẫu thuật cơ vận nhãn. Các biện pháp trên có thể giảm lồi nhãn cầu 5 - 7 mm. Gần đây người ta xứ dụng Colchicine và Pentoxifylline Điều trị phù niêm trong Basedow Bôi tại chỗ 1mg betamethasone Celestoderm hoặc fluocinolone Synalar. Điều trị cơn bão giáp Đây là cấp cứu nội tiết vì thế cần điều trị, chăm sóc và theo dõi tích cực. Thuốc kháng giáp Propylthiouracil PTU 250 - 300mg / 6 giờ hoặc Méthimazole 25mg/6 giờ uống hoặc đặt hậu môn trường hợp không uống được. Trường hợp nặng có thể tăng PTU 100 mg/ 2 giờ. Iode Sử dụng hai giờ sau khi dùng thuốc kháng giáp, dùng thêm Sodium – Iodide 1g/tĩnh mạch/24 giờ hoặc dung dịch bão hòa potassium - Iodide 10 giọt/12 giờ hoặc Ipodate Sodium 1g/ngày đường uống hay đường tĩnh mạch. Propranolol 40 mg đường uống hoặc 1 - 2 mg đường tĩnh mạch mỗi 6 giờ, trong trường hợp có bệnh lí mạch vành đi kèm. Hoặc Verapamil 5-10mg/6 giờ/ tĩnh mạch chậm trường hợp chống chỉ định ức chế β. Hydrocortisone - hemisucinate 50mg/6 giờ đường tĩnh mạch do cortisol dự trữ bị giảm và nhu cầu cortisol tăng trong stress. Mền lạnh. Hạ sốt bằng Paracetamol không dùng aspirine. Bù dịch, điện giải và chế độ dinh dưỡng rất quan trọng. An thần và Phenolbarbital. Thở oxy, lợi tiểu và Digitalis được chỉ định trong trường hợp có suy tim. Điều trị hoặc ngăn cản yếu tố khởi phát. Kháng sinh, chống dị ứng, chăm sóc sau mổ. Trường hợp nặng không hiệu quả điều trị nội khoa cần trích máu hoặc thẩm phân phúc mạc để giảm bớt nồng độ hormone giáp lưu hành. Kiểm tra thường xuyên nồng độü kích tố giáp mỗi 3 - 4 ngày để điều chỉnh thuốc. Phối hợp PTU, iode, Dexamethasone có thể làm lượng T3 trở về bình thường sau 24 - 48 giờ. Điều trị suy tim Đây là vấn đề hết sức tinh tế và cân nhắc trước khi chọn lựa thuốc điều trị. Suy tim tăng cung lượng Chủ yếu là thuốc kháng giáp tổng hợp phối hợp ức chế bê ta nếu không chống chỉ định. Suy tim giảm cung lượng Bên cạnh thuốc kháng giáp tổng hợp cần phối hợp với thuốc trợ tim, lợi tiểu, thận trọng thuốc ức chế bêta. Điều trị Basedow ở phụ nữ có thai Chống chỉ định điều trị I131. Không dùng iod trong quá trình điều trị, gây suy giáp treø sơ sinh. Điều trị nội khoa. Kháng giáp tổng hợp Ba tháng đầu dùng PTU và ba tháng giữa có thể phẫu thuật. Propranolol có thể sử dụng lưu ý suy hô hấp và kém phát triển thai nhi nếu sử dụng liều cao và kéo dài. Trong thời gian cho con bú có thể sử dụng PTU vì thuốc qua sữa mẹ không đáng kể. Thai nhi cần được theo dõi sát trong quá trình sử dụng thuốc kháng giáp. Điều trị chứng giảm - mất bạch cầu hạt Trong quá trình điều trị thuốc kháng giáp tổn hợp thường xuyên kiểm tra công thức bạch cầu nếu phát hiện số lượng bạch cầu hạt dưới 1200 mm3 cần phải theo dõi sát do có nguy cơ mất bạch cầu hạt nếu bạch cầu dưới 200 / mm3. Ngưng thuốc kháng giáp và tuỳ mức độ và xữ dụng thêm Neupogen Filgrrstim hoặc Leucomax Molgramostim Tiên lượng Tiên lượng bệnh nhân tuỳ thuộc thể bệnh, phương tiện điều trị và theo dõi. Mặc dù nó có thể phát triển ở mọi lứa tuổi và trong cả hai người đàn ông hay phụ nữ, Graves, basedow phổ biến hơn ở phụ nữ và thường bắt đầu sau tuổi 20. Biên tập viên Trần Tiến Phong Đánh giá Trần Trà My, Trần Phương Phương Định nghĩa Graves - Basedow là hình thức phổ biến nhất của cường giáp, xảy ra khi hệ miễn dịch tấn công nhầm tuyến giáp làm cho nó sản xuất thừa hormone thyroxine. Thyroxine ở cấp độ cao hơn rất nhiều có thể tăng tỷ lệ trao đổi chất của cơ thể, có thể ảnh hưởng đến từ tâm trạng để ngoại hình. Graves - Basedow hiếm khi đe dọa tính mạng. Mặc dù nó có thể phát triển ở mọi lứa tuổi và trong cả hai nam hay nữ, Graves - Basedow phổ biến hơn ở phụ nữ và thường bắt đầu sau tuổi 20. Không có cách nào để ngăn chặn hệ miễn dịch tấn công tuyến giáp, nhưng phương pháp điều trị bệnh Graves - Basedow có thể dễ dàng giảm triệu chứng và giảm việc sản xuất thyroxine. Các triệu chứng Triệu chứng bệnh Graves - Basedow có thể bao gồm Lo lắng. Khó chịu. Khó ngủ. Mệt mỏi. Nhịp tim nhanh hoặc bất thường. Run tay hoặc ngón tay. Gia tăng mồ hôi. Nhạy cảm với nhiệt. Giảm trọng lượng, mặc dù lượng thức ăn bình thường. Tóc giòn. Tuyến giáp phì đại bướu cổ. Thay đổi chu kỳ kinh nguyệt. Bệnh mắt Graves - Basedow Dấu hiệu mắt cũng khá phổ biến và được gọi là bệnh mắt Graves - Basedow. Trong bệnh mắt Graves - Basedow, nhãn cầu phình ra quá quỹ đạo bảo vệ lồi mắt. Điều này xảy ra khi các mô và cơ đằng sau mắt sưng lên và làm cho nhãn cầu di chuyển về phía trước. Bởi vì mắt có thể bị đẩy về phía trước, mặt trước mắt có thể trở nên khô. Nếu hút thuốc lá khi bệnh Graves - Basedow nguy cơ phát triển Graves - Basedow lớn hơn năm lầni người không hút thuốc. Điều này có thể vì hút thuốc ức chế sự hấp thu của thuốc kháng giáp trạng được sử dụng để điều trị bệnh Graves - Basedow. Bệnh mắt Graves - Basedow có thể gây ra những dấu hiệu và triệu chứng nhẹ Cảm giác rách và cảm giác sạn hay cát trong một hoặc cả hai mắt. Đỏ hoặc viêm mắt. Mở rộng không gian giữa mi mắt. Sưng phù mi mắt và các mô xung quanh mắt. Nhạy cảm ánh sáng. Ít thường xuyên hơn, bệnh mắt Graves - Basedow có thể tạo ra những dấu hiệu và triệu chứng nghiêm trọng Loét giác mạc. Hạn chế cử động mắt. Mờ, giảm thị lực. Bệnh da Graves - Basedow Một dấu hiệu bất thường của Graves - Basedow là đỏ và sưng da, thường ở mào chày cẳng chân và trên mu bàn chân, gọi là bệnh da Graves – Basedow. Gặp bác sĩ nếu có dấu hiệu và triệu chứng gợi ý bệnh Graves - Basedow, đặc biệt là Tuyến giáp phì đại. Lồi mắt. Lo lắng. Không dung nạp với nhiệt. Rung tay. Giảm trọng lượng. Tìm kiếm sự chăm sóc khẩn cấp nếu đang trải qua những dấu hiệu liên quan đến tim và các triệu chứng, như nhịp tim nhanh hoặc bất thường. Nguyên nhân Các bác sĩ không biết những gì gây ra bệnh Graves - Basedow. Thông thường, hệ thống miễn dịch sử dụng các protein tự nhiên kháng thể và các tế bào máu trắng bạch cầu để giúp loại bỏ virus, vi khuẩn và các chất lạ kháng nguyên xâm nhập cơ thể. Trong bệnh Graves - Basedow, hệ thống miễn dịch nhầm lẫn tấn công tuyến giáp, nhưng thay vì phá hủy các tuyến, kháng thể gọi là thyrotropin thụ kháng thể TRAb kích thích tuyến giáp làm cho quá nhiều hormone tuyến giáp. Tuyến giáp là một phần của hệ thống nội tiết, bao gồm các tuyến và các mô sản xuất kích thích tố. Các chất phối hợp nhiều hoạt động của cơ thể, từ tiêu hóa để trao đổi chất đến sinh sản. Thyroxine, một hormone được sản xuất bởi tuyến giáp ảnh hưởng đến nhiều hệ thống cơ thể và có liên quan đến việc kiểm soát tốc độ trao đổi chất. Yếu tố nguy cơ Mặc dù nguyên nhân của Graves - Basedow chưa được biết, các nhà nghiên cứu tin rằng sự kết hợp các yếu tố có thể xác định khả năng phát triển Graves - Basedow, chẳng hạn như Lịch sử gia đình của bệnh. Phụ nữ có tỷ lệ mắc bệnh lớn hơn nam giới bảy lần. Graves - Basedow thường phát triển sau tuổi 20. Stress. Mang thai. Hút thuốc. Các biến chứng Bất cứ lúc nào cơ thể sản xuất quá nhiều hormone tuyến giáp, vì bệnh Graves - Basedow hoặc nguyên nhân khác, nó có thể dẫn đến một số biến chứng Vấn đề về tim. Một số trong những biến chứng nghiêm trọng nhất của cường giáp liên quan đến tim. Chúng bao gồm nhịp tim nhanh, rối loạn nhịp tim được gọi là rung nhĩ và suy tim sung huyết, một tình trạng mà tim không thể lưu thông máu đủ để đáp ứng nhu cầu của cơ thể. Các biến chứng này thường giảm với điều trị thích hợp. Giòn xương. Nếu không điều trị cường giáp cũng có thể dẫn đến xương yếu, xương dễ gãy loãng xương. Sức mạnh của xương phụ thuộc một phần vào số lượng canxi và các khoáng chất khác. Quá nhiều hormon tuyến giáp cản trở khả năng của cơ thể để kết hợp canxi vào xương. Cơn cường giáp. Cường giáp cũng có những cơn cường giáp, sự tăng cường đột ngột các dấu hiệu và triệu chứng, dẫn đến một cơn sốt, nhịp tim nhanh và thậm chí mê sảng. Biến chứng này hiếm gặp, nhưng nếu nó xảy ra, ngay lập tức tìm kiếm sự chăm sóc y tế. Kiểm tra và chẩn đoán Để chẩn đoán bệnh Graves - Basedow, bác sĩ thường sử dụng các thủ tục này Khám lâm sàng. Bác sĩ kiểm tra mắt để xem có bị kích thích hoặc nhô ra và sẽ tìm hiểu xem tuyến giáp có phì đại. Vì Graves - Basedow tăng sự trao đổi chất, bác sĩ sẽ kiểm tra mạch và huyết áp và tìm những dấu hiệu bất thường. Bác sĩ cũng sẽ hỏi về các triệu chứng và lịch sử y tế cá nhân và gia đình. Xét nghiệm máu. Bác sĩ có khả năng xét nghiệm máu để xác định mức độ của tuyến giáp, hormone kích thích TSH và thyroxine. TSH được sản xuất bởi tuyến yên, là hormone kích thích tuyến giáp. Trong bệnh Graves - Basedow, một kháng thể bất thường được gọi là TRAb bắt chước TSH, gây thyroxine cao ngay cả trong khi mức TSH vẫn còn thấp. Nếu mức TSH rất thấp và mức thyroxine cao, bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh Graves - Basedow. Hấp thu I - ốt phóng xạ. Cơ thể cần iodine để làm thyroxine. Bằng cách cho một lượng nhỏ iốt phóng xạ và sau đó đo số lượng nó trong tuyến giáp, bác sĩ có thể xác định tốc độ mà tuyến giáp có iốt. Sự hấp thu iốt phóng xạ cao cho thấy tuyến giáp sản xuất quá nhiều thyroxine, như trường hợp bệnh Graves - Basedow. Hấp thụ thấp xảy ra ở một số nguyên nhân khác của cường giáp. Phương pháp điều trị và thuốc Không có điều trị đặc hiệu để ngăn chặn hệ thống miễn dịch sản xuất các kháng thể gây ra bệnh Graves - Basedow. Phương pháp điều trị để kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh Graves - Basedow được thiết kế để giảm việc sản xuất thyroxine hoặc để ngăn chặn tác dụng của thyroxine. Điều trị bệnh Graves - Basedow bao gồm Beta blockers. Những loại thuốc này, trong đó bao gồm propranolol Inderal, atenolol TERNOMIN, metoprolol Lopressor và nadolol Corgard, thường làm giảm các dấu hiệu và triệu chứng cường giáp, chẳng hạn như là tim nhanh. Những loại thuốc này không phải là chữa bệnh Graves - Basedow vì cơ thể vẫn sản xuất quá nhiều thyroxine, nhưng chẹn beta chặn một số tác dụng của các hormone tuyến giáp. Beta blockers thường được sử dụng kết hợp với các hình thức điều trị. Thuốc kháng giáp. Các thuốc theo toa, bao gồm propylthiouracil và methimazole Tapazole, ngăn chặn tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone. Thông thường, điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng tiếp tục ít nhất một năm. Đối với một số người bị bệnh Graves - Basedow, điều trị bằng thuốc kháng giáp trạng 1 - 2 năm nhằm thuyên giảm bệnh lâu dài. Tuy nhiên, tái phát là khá phổ biến. Các thuốc này thường được sử dụng cùng với điều trị iốt phóng xạ hoặc phẫu thuật để giúp kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng. Cả hai loại thuốc có thể gây tổn thương gan nghiêm trọng, đôi khi dẫn đến tử vong. Nhưng propylthiouracil đã gây ra trường hợp nhiều hơn, do đó, nó thường chỉ nên được sử dụng khi không thể chịu đựng được methimazole. Điều trị I - ốt phóng xạ. Để tạo ra nội tiết tố tuyến giáp, cơ thể cần I - ốt và sử dụng bất cứ hình thức nào của I - ốt có sẵn trong máu. Khi có iốt phóng xạ, iốt thu thập trong tuyến giáp và qua thời gian, phóng xạ phá hủy các tế bào tuyến giáp hoạt động quá mức. Điều này làm cho tuyến giáp thu nhỏ, và các vấn đề giảm dần, thường là trong vài tuần đến vài tháng. Bởi vì điều trị này có thể là nguyên nhân gây suy giảm hoạt động tuyến giáp, có thể sau này cần điều trị thyroxine để cung cấp cho cơ thể số lượng kích thích tố tuyến giáp bình thường. Điều trị không yêu cầu ở lại bệnh viện. Điều trị I - ốt phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ các triệu chứng mới hoặc bệnh mắt Graves - Basedow trở lên tồi tệ hơn. Tác dụng phụ này thường nhẹ và tạm thời, nhưng điều trị iốt phóng xạ có thể không được khuyến khích nếu đã có vấn đề về mắt trung bình đến trầm trọng. Sau khi điều trị iốt phóng xạ, iốt không được lên tuyến giáp được bài tiết trong nước tiểu và nước bọt . Phẫu thuật. Nếu không thể chịu đựng được loại thuốc kháng giáp trạng và không muốn dùng iốt phóng xạ trị liệu, phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp là một lựa chọn. Sau khi phẫu thuật, sẽ có thể cần điều trị thyroxine để cung cấp cho cơ thể số lượng bình thường của kích thích tố tuyến giáp. Rủi ro của phẫu thuật này bao gồm thiệt hại tiềm năng dây thanh và tuyến cận giáp, các tuyến nhỏ nằm cạnh tuyến giáp. Tuyến cận giáp tạo ra hormone kiểm soát mức canxi trong máu. Các biến chứng rất hiếm dưới sự chăm sóc của bác sĩ phẫu thuật có kinh nghiệm trong phẫu thuật tuyến giáp. Điều trị bệnh mắt Graves - Basedow Nếu Graves - Basedow ảnh hưởng đến mắt, có thể quản lý các triệu chứng nhẹ bằng cách sử dụng nước mắt nhân tạo trong ngày và bôi gel vào ban đêm. Nếu các triệu chứng nặng hơn, bác sĩ có thể khuyên nên Thuốc. Điều trị bằng thuốc corticosteroid, chẳng hạn như prednisone, có thể làm giảm sưng phía sau nhãn cầu. Phẫu thuật giải nén hốc mắt. Trong phẫu thuật này, bác sĩ loại bỏ các xương giữa hốc mắt và các xoang. Điều này cho mắt thoải mái trở lại vị trí ban đầu. Biến chứng có thể bao gồm nhìn đôi và tê môi. Phẫu thuật cơ mắt. Viêm nhiễm gây ra bởi bệnh Graves - Basedow có thể ảnh hưởng đến các cơ mắt, làm cho quá ngắn để cho phép mắt phù hợp. Trong phẫu thuật cơ mắt, bác sĩ cắt giảm các cơ gắn vào nhãn cầu và sau đó tái vị trí nó xa trở lại. Đôi khi, nhiều hơn một hoạt động là cần thiết. Lăng kính. Có thể nhìn đôi hoặc do bệnh hoặc tác dụng phụ của phẫu thuật cho bệnh Graves - Basedow. Mặc dù không hiệu quả cho tất cả mọi người, lăng kính trong mắt kính có thể chính xác khi nhìn đôi. Xạ trị hốc mắt Orbital. xạ trị đã từng là điều trị phổ biến cho bệnh mắt Graves - Basedow. Xạ trị sử dụng nhắm mục tiêu trong suốt nhiều ngày để tiêu diệt một số các mô đằng sau mắt. Tuy nhiên, một số nghiên cứu cho thấy điều trị này không cung cấp lợi ích cho những người có bệnh mắt Graves - Basedow từ nhẹ đến nặng vừa phải. Bác sĩ có thể khuyên nên xạ trị nếu vấn đề mắt đang xấu đi và corticosteroid một mình là không hiệu quả hoặc không dung nạp tốt. Phong cách sống và biện pháp khắc phục Đối với bệnh mắt Graves - Basedow Các bước này có thể làm cho mắt cảm thấy tốt hơn nếu có bệnh mắt Graves - Basedow Áp mát nén mắt. Độ ẩm có thể làm dịu đôi mắt. Đeo kính râm. Khi mắt nhô ra, dễ bị tia cực tím và nhạy cảm với ánh sáng. Đeo kính mát bọc quanh hai bên đầu sẽ giảm gió kích thích mắt. Sử dụng thuốc nhỏ mắt bôi trơn. Thuốc nhỏ mắt có thể làm giảm cảm giác, khô hỗn tạp trên bề mặt của mắt. Vào ban đêm, một gel dựa trên dầu như Lacri có thể được áp dụng. Nâng cao đầu giường. Giữ đầu cao hơn so với phần còn lại của cơ thể làm giảm sự tích tụ dịch trong đầu và có thể làm giảm áp lực trên mắt. Đối với bệnh da Graves - Basedow Nếu bệnh ảnh hưởng đến da, các loại kem sử dụng toa hoặc thuốc mỡ chứa hydrocortisone để làm giảm sưng và đỏ. Ngoài ra, sử dụng nén trên đôi chân có thể giúp đỡ. Đối phó và hỗ trợ Nếu bị bệnh Graves - Basedow, làm cho thể chất và tinh thần tốt là một ưu tiên. Ăn uống tốt và tập thể dục có thể nâng cao sự cải thiện trong một số triệu chứng trong khi được điều trị và giúp cảm thấy tốt hơn nói chung. Ví dụ, bởi vì tuyến giáp điều khiển sự trao đổi chất, có thể có xu hướng tăng cân khi cường giáp. Dễ gãy xương cũng có thể xảy ra với bệnh Graves - Basedow và bài tập chịu trọng lượng có thể giúp duy trì mật độ xương. Hãy thử giảm bớt căng thẳng nhiều như có thể, căng thẳng có thể góp phần vào sự phát triển bệnh Graves - Basedow. Nghe nhạc, tắm nước ấm hoặc đi bộ có thể giúp thư giãn. Đối tác với bác sĩ để xây dựng một kế hoạch kết hợp dinh dưỡng tốt, tập thể dục và thư giãn vào thói quen hàng ngày. Một trong các cách điều trị bệnh basedow là phẫu thuật tuyến giáp. Vì đây là phương pháp xâm lấn, có thể tiềm ẩn các nguy cơ nhất định, việc cân nhắc điều trị bệnh basedow khi nào cần phẫu thuật đúng chỉ định là một điều quan trọng. Bác sĩ có thể đề nghị tư vấn phẫu thuật tuyến giáp cho bệnh nhân basedow trong các trường hợp sauHiện đang mang thai hoặc cho con bú hoặc nuôi con nhỏ trong nhàBiến chứng mắt nghiêm trọng do bệnh basedowCó sự hiện diện đồng thời của ung thư tuyến giáp hoặc nốt sần nghi ngờ ác tínhBị tác dụng phụ của thuốc kháng giápKích thước tuyến giáp quá to gây ra khó khăn khi nuốt, hít thở hoặc biến dạng cổKhó kiểm soát cường giápMong muốn kiểm soát nhanh chóng và giải quyết khỏi bệnh cường giáp Bệnh basedow xuất hiện cùng lúc với ung thư tuyến giáp cần được phẫu thuật 2. Những lợi ích khi phẫu thuật tuyến giáp là gì? Phẫu thuật tuyến giáp sẽ đem đến cho những người mắc bệnh basedow một cách chữa trị nhanh chóng và hiệu dù bệnh nhân có thể sẽ cần chuyển từ việc uống thuốc chống tuyến giáp sang bổ sung hormone tuyến giáp nếu phẫu thuật cắt trọn tuyến giáp, các triệu chứng khó chịu nhìn chung không còn nữa. Tuy nhiên, bệnh nhân nên tiếp tục dùng tất cả các loại thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta cho đến tận ngày phẫu thuật. Thậm chí, thuốc chẹn beta có thể được tiếp tục trong một vài ngày sau phẫu thuật và sau đó có thể giảm dần hoặc dừng lại. Việc bổ sung hormone tuyến giáp thường được bắt đầu vào ngày hôm sau, hoặc một vài ngày sau đó ở những bệnh nhân kiểm soát hormone kém trong giai đoạn trước phẫu mổ cường giáp sẽ cắt bỏ tuyến giáp tất cả hoặc gần như tất cả các mô tuyến giáp khỏi cổ, điều này sẽ dẫn đến việc giảm sản xuất kháng thể nhanh hơn theo thời gian, có lợi cho những người mắc biến chứng về mắt. Đồng thời, mổ basedow cũng tránh được sự tăng đột biến đáng kể trong sản xuất kháng thể được quan sát thấy khi điều trị với iốt phóng xạ, có thể làm trầm trọng thêm tổn thương mắt, đặc biệt là ở người hút với những bệnh nhân có các triệu chứng chèn ép đáng kể do tuyến giáp quá to, gây khó nuốt, cảm giác nghẹt thở, khó thở hoặc có áp lực cổ, nặng cổ, mổ cường giáp sẽ loại bỏ bớt nhu mô tuyến giáp và sẽ giải quyết các triệu chứng với những bệnh nhân muốn tránh tiếp xúc với bức xạ, phẫu thuật tuyến giáp là một biện pháp thay thế không có phóng xạ để kiểm soát dứt điểm căn bệnh này. 3. Những nguy cơ có thể gặp phải khi mổ basedow là gì? Chấn thương thoáng qua ở dây thần kinh thanh quản tái phát hoặc nhánh ngoài của dây thần kinh thanh quản trên dẫn đến khàn giọng, mất giọng nói. Nguy cơ chấn thương vĩnh viễn là rất canxi máu thoáng qua Tại thời điểm phẫu thuật, tuyến cận giáp thường nằm ở phần sau của tuyến giáp phải được bảo quản cẩn thận nhưng vẫn có thể sang chấn và cần một thời gian phục hồi sau phẫu thuật. Trong thời gian này, tuyến cận giáp không thể đảm bảo chức năng duy trì mức canxi trong máu. Lúc này, chủ động điều trị trước bằng canxi và bổ sung vitamin D có thể giảm thiểu những rủi ro này. Nguy cơ hạ canxi máu vĩnh viễn do tổn thương không hồi phục đối với tuyến cận giáp là cực kỳ thấp ở các bác sĩ phẫu thuật tuyến giáp có kinh máu, nhiễm trùng Các nguy cơ này xảy ra trong giai đoạn hậu phẫu tại vị trí phẫu thuật tuyến giáp là rất bão giáp Trong quá trình phẫu thuật tuyến giáp, việc xử lý tuyến giáp có thể gây ra sự giải phóng ồ ạt các hormone tuyến giáp vào máu. Nếu người bệnh đã được kiểm soát tốt tiền thuật trước đó, cơ thể đã được bảo vệ khỏi tác động của hormone này. Ngược lại, cơn bão giáp nghiêm trọng có thể gây tổn thương cấp tính các cơ quan và đôi khi còn nguy kịch đến tính mạng ngay trên bàn mổ nếu không được kiểm soát tức thời. Người bệnh có thể mất giọng sau khi mổ basedow 4. Làm thế nào để chuẩn bị phẫu thuật tuyến giáp? Đảm bảo người bệnh đang được chỉ định dùng thuốc chống tuyến giáp và thuốc chẹn beta để kiểm soát tối ưu nồng độ hormone tuyến giáp trước khi phẫu sĩ phẫu thuật nên bắt đầu bổ sung canxi từ trước mổ basedow và bổ sung vitamin D nếu người bệnh bị bệnh có thể được kê toa thuốc giảm iốt trong 10 ngày trước phẫu thuật. Những giọt iốt này không chứa bất kỳ bức xạ nào mà có thể giúp giảm lưu lượng máu đến tuyến giáp trước khi mổ cường giáp. 5. Cách tiến hành phẫu thuật tuyến giáp Việc phẫu thuật tuyến giáp sẽ được thực hiện dưới gây mê toàn vết mổ được thực hiện ở ngay phía trước cổ của người bệnh để bác sĩ có thể tiếp cận đến tuyến giáp. Trong quá trình phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật phải kiểm soát cẩn thận các mạch máu đến tuyến giáp, loại bỏ tuyến giáp trong khi bảo vệ dây thần kinh kiểm soát dây thanh âm và tuyến cận giáp. Nếu tuyến cận giáp bị tổn thương, chúng có thể được đặt lại vào trong các cơ vùng cổ để có thể tự phục tuyến giáp đã được cắt bỏ, bác sĩ phẫu thuật sẽ đóng tất cả các lớp và có thể để lại một ống dẫn nhỏ để tiếp tục dẫn lưu, loại bỏ bất kỳ chất lỏng nào có thể tích tụ trong không gian nơi tuyến giáp tồn tại trước bệnh sẽ được theo dõi trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật để đảm bảo các chức năng đang hồi phục tốt. Đối với một số bệnh nhân gặp phải tình trạng hạ canxi sau phẫu thuật, thời gian nằm viện có thể dài hơn cho đến khi mức canxi được điều chỉnh trở về ổn định. Gây mê toàn thân được chỉ định trong phẫu thuật 6. Cách chăm sóc sau phẫu thuật tuyến giáp như thế nào? Cách thức phẫu thuật và thời gian phục hồi có thể khác nhau ở mỗi cá chung, sau mổ basedow, hầu hết các người bệnh là không tránh khỏi bị đau họng trong vài ngày. Chính vì vậy, họ cần được được chăm sóc bằng một chế độ ăn uống mềm hơn, dễ nuốt hơn trong giai đoạn tuần đầu tiên sau mổ cường giáp, mức năng lượng dung nạp được của bệnh nhân sẽ thấp hơn bình thường vì cơ thể đang sử dụng năng lượng của mình để chữa lành. Tuy vậy, khi vết thương cải thiện hơn, người bệnh có thể ăn uống tăng dần. Sau phẫu thuật, người bệnh cần ăn các loại thức ăn mềm 7. Có cần phải uống thuốc tiếp tục sau phẫu thuật tuyến giáp hay không? Bác sĩ phẫu thuật sẽ bắt đầu liệu pháp thay thế hormone tuyến giáp sau phẫu thuật tuyến hầu hết các trường hợp, người bệnh sẽ có chỉ định bắt đầu vào buổi sáng sau mổ basedow. Nếu nồng độ hormone tuyến giáp chưa được kiểm soát tốt trước khi phẫu thuật hoặc người bệnh đã trải qua một sự giải phóng hormone ồ ạt trong quá trình phẫu thuật có thể nhận thấy nhịp tim nhanh, huyết áp cao, bốc hỏa nặng hoặc run rẩy tay chân ngay sau phẫu thuật, bác sĩ phẫu thuật có thể trì hoãn thuốc sau vài cạnh đó, dựa trên mức độ canxi và lượng hormone tuyến cận giáp trong máu, người bệnh có thể cần phải bổ sung canxi và/hoặc vitamin D trong một khoảng thời gian sau khi phẫu thuật tuyến nhiên, bệnh nhân sẽ có thể ngừng thuốc kháng giáp ngay lập tức sau mổ basedow. Nếu đang dùng thuốc chẹn beta nhằm kiểm soát nhịp tim, bác sĩ có thể ngừng, giảm liều hoặc giữ liều tương tự với kế hoạch cai thuốc trong vài tuần và vài tháng sau phẫu lại, phẫu thuật tuyến giáp là cách thức điều trị bệnh basedow đem lại hiệu quả nhanh, kiểm soát tốt triệu chứng và không có nguy cơ phơi nhiễm phóng xạ. Tuy nhiên, để cuộc mổ cường giáp đem lại lợi ích tối đa, cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hạn chế các rủi ro không mong được tư vấn chi tiết, quý khách vui lòng đến trực tiếp hệ thống y tế Vinmec hoặc đăng ký khám trực tuyến TẠI thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow XEM THÊM Chỉ số FT4= 13,2, TSH = 0,04 sau điều trị bệnh Basedow 3 tháng có ổn không? Mối liên hệ giữa tuyến giáp và rụng tóc Tiết dịch vàng ở vú trong thời kỳ mang thai có sao không? Thuốc kháng giáp ngăn cho tuyến giáp sản xuất quá nhiều hormone dư thừa bằng cách ức chế quá trình oxy hóa i-ốt trong tuyến giáp. Các triệu chứng bệnh basedow thường sẽ cải thiện trong vòng 4–6 tuần kể từ khi bắt đầu dùng thuốc. Các thuốc kháng giáp có thể sử dụng kết hợp với các phương pháp điều trị khác như liệu pháp i-ốt phóng xạ hoặc phẫu thuật. Việc sử dụng thuốc có khi vẫn tiếp tục kéo dài trong 12–18 tháng để đảm bảo tình trạng bệnh không quay trở lại. Trong một số trường hợp, bạn có khi phải uống thuốc lâu hơn. Liệu pháp i-ốt phóng xạ Liệu pháp i-ốt phóng xạ đã được ứng dụng để điều trị basedow phổ biến từ những năm 1940. Đến ngày nay, phương pháp này vẫn được sử dụng vì không xâm lấn và mang lại hiệu quả cao. I-ốt phóng xạ được đưa vào cơ thể bằng đường uống và sẽ nhắm trực tiếp vào tuyến giáp. Bình thường, tuyến giáp sử dụng i-ốt để tạo nên hormone. Khi dùng thuốc, i-ốt phóng xạ sẽ tích tụ trong tuyến giáp và từ từ phá hủy các tế bào hoạt động quá mức ở đây. Từ đó, kích thước tuyến giáp sẽ giảm xuống và sản xuất ít hormone hơn lúc trước. Mặc dù có những lo ngại cho rằng sử dụng phóng xạ có thể làm tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp nhưng đến nay vẫn chưa có nghiên cứu nào đo được mức độ nguy hiểm sẽ tăng lên bao nhiêu. Tuy nhiên, vẫn có một rủi ro nhỏ có thể xảy ra khi thực hiện liệu pháp này là ung thư thứ phát. Mặc dù liệu pháp i-ốt phóng xạ khá an toàn nhưng không nên dùng cho phụ nữ có thai vì chất này có thể phá hủy tuyến giáp ở thai nhi. Do đó, bạn phải đảm bảo không mang thai trước khi uống thuốc i-ốt phóng xạ. Ngoại trừ giai đoạn đang điều trị, i-ốt phóng xạ không gây nguy hiểm cho sức khỏe với phụ nữ muốn có thai cũng như không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của phụ nữ hoặc nam giới. Thuốc chẹn beta Theo chỉ định chính thống, thuốc chẹn beta được dùng để điều trị các vấn đề về tim và tăng huyết áp. Chúng hoạt động bằng cách ngăn chặn tác động của adrenalin và các hợp chất tương tự khác. Bên cạnh đó, các thuốc này có thể giúp giảm bớt những triệu chứng bệnh basedow. Người bệnh basedow có khả năng nhạy cảm hơn với adrenalin, từ đó gây ra các triệu chứng như đổ mồ hôi, run rẩy, tăng nhịp tim và lo lắng. Khi đó, thuốc chẹn beta có thể giúp giảm bớt những triệu chứng này, nhưng lưu ý là chúng không giải quyết được nguyên nhân gây bệnh basedow. Thuốc chẹn beta hay được dùng chung với những phương pháp điều trị khác. Điều này đồng nghĩa với việc nguy cơ xuất hiện tương tác thuốc sẽ tăng lên, gây ra những tác dụng không mong muốn. Phẫu thuật Phẫu thuật tuyến giáp là cách điều trị basedow được chỉ định nếu các phương pháp điều trị khác không thành công. Cắt tuyến giáp sẽ loại bỏ tất cả hoặc một phần của tuyến giáp tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng bệnh. Ưu điểm lớn nhất khi phẫu thuật chính là khôi phục được nồng độ hormone tuyến giáp nhanh nhất, dễ nhất và lâu dài nhất. Sau khi phẫu thuật, người bệnh có thể cảm thấy đau cổ, giọng khàn và yếu ớt nhưng chỉ là những biểu hiện tạm thời do ống thở được đưa vào khí quản trong khi phẫu thuật gây nên. Một vết sẹo sẽ xuất hiện sau khi cắt tuyến giáp và kích thước của nó sẽ phụ thuộc vào phần tuyến giáp được phẫu thuật loại bỏ đi. Khi phẫu thuật chỉ loại bỏ một phần tuyến giáp, phần còn lại sẽ vẫn có khả năng đảm nhận được chức năng của tuyến nội tiết này. Tuy nhiên, nếu toàn bộ tuyến giáp bị cắt bỏ, cơ thể sẽ không thể sản xuất đủ hormone tuyến giáp và gây ra tình trạng suy giáp. Để điều trị bệnh lý này, bác sĩ sẽ kê đơn thuốc nội tiết tố có tác dụng thay thế hormone bị thiếu và bạn sẽ cần sử dụng chúng suốt đời. Các biện pháp hỗ trợ tại nhà cho bệnh basedow Những người mắc bệnh basedow có vấn đề về mắt thường chiếm khoảng 25–50% nhưng hầu hết đều có thể kiểm soát được bằng các biện pháp khắc phục tại nhà dưới đây. Một số trường hợp có thể cần phẫu thuật nhưng rất hiếm và chỉ dành cho những trường hợp có triệu chứng nghiêm trọng Nếu mí mắt không thể khép lại hoàn toàn, hãy sử dụng miếng dán mắt vào ban đêm để giữ cho mắt không bị khô. Sử dụng nước mắt nhân tạo không kê đơn hoặc theo đơn của bác sĩ để làm ẩm mắt bất cứ khi nào cảm thấy khô mắt. Khi mắt bị đỏ và sưng vào buổi sáng, hãy thay đổi tư thế ngủ với đầu được kê cao lên. Đeo kính râm để bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời, ánh sáng đèn và gió. Tại Việt Nam, tỷ lệ người mắc bệnh Basedow khá cao, chiếm khoảng từ 10% đến 39% các bệnh liên quan đến bướu giáp hiện nay. Bệnh nếu không được điều trị kịp thời sẽ có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm. Bệnh Basedow là một dạng bệnh nội tiết phổ biến nhất hiện nay, trong đó bệnh cường giáp tự miễn chiếm hơn 90% các bệnh cường giáp. Bệnh được đặc trưng bởi hiện tượng bướu giáp lan tỏa và triệu chứng lồi mắt, thường bắt gặp chủ yếu ở nữ. Nếu không được chữa trị kịp thời mà để tình trạng bệnh kéo dài thì sẽ rất nguy hiểm cho bệnh nhân. 2. Nhận biết triệu chứng của bệnh Basedow Việc nhận biết triệu chứng được chia làm 2 nhóm hội chứng lớn là biểu hiện tại tuyến giáp và ngoài tuyến Tại tuyến giápBướu giápNgười mắc bệnh Basedow thường có bướu giáp lớn, thường lan tỏa, tương đối đều, mềm hoặc hơi cứng, nếu bướu lớn có thể chèn ép các cơ quan ở vùng lân cận. Một số biểu hiện rối loạn vùng mạch tại vùng cổ như ửng đỏ, do nóng, tăng tiết mồ mạchHồi hộp, nhịp tim nhanh, loạn nhịp khi gắng sức làm việc hay trong thời gian nghỉ ngơi. Trường hợp mạnh gây ra suy tim loạn mạch, phù phổi, gan to, phù hai chi kinh cơDấu hiệu nổi rõ ở hai bàn tay là run tay kèm theo yếu cơ. Khi mắc bệnh cường giáp, bệnh nhân thường thay đổi tính khí thất thường, dễ nóng giận hay cáu gắt, bực tức, nói nhiều, bất an, khó tập trung, mất ngủ. Hai bàn tay là run tay kèm theo yếu cơ ở người bệnh Basedow Dấu hiệu tăng chuyển hóaThân nhiệt tăng cao, thất thường, không ổn định, luôn có cảm giác nóng. Cơ thể gầy nhanh, uống nhiều nước, chịu được thời tiết lạnh nhưng không chịu được thời tiết ra còn xuất hiện rối loạn chuyển hóa gây hiện tượng loãng xương, ở người lớn tuổi sau mãn kinh gây nhiều biến chứng nặng như xẹp đốt sống, loãng xương tự nhiên, viêm quanh các hiện tiêu hóaĂn nhiều vẫn gầy, hay bị tình trạng tiêu chảy, nôn mửa, vàng loạn sinh lýVới biểu hiện giảm ham muốn ở nam giới và rối loạn kinh nguyệt ở nữ giới, chứng vú to ở nam giới. Da và cơ quan phụ thuộcNgứa da, biểu hiện rối loạn sắc tố da, có xuất hiện bạch ban ở bàn tay và các chi, tóc khô, hoe, rất dễ rụng Biểu hiện ngoài tuyến giápThương tổn mắtThường hay gặp là lồi mắt. Có 2 dạng là lồi mắt giả và lồi mắt thật lòi mắt nội tiết, có thể không liên quan đến mức độ nhiễm độc giáp hoặc độc lập với điều trị vì có thể xảy ra sau quá trình điều trị nhất là phẫu thuật hoặc điều trị phóng mắt giảTriệu chứng này tổn thương không thâm nhiễm liên quan đến bất thường về chức năng do tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm tăng thyroxin gây tăng co kéo cơ nâng mi làm khóe mắt rộng ra. Thương tổn mắt với biểu hiện mắt người bệnh bị lồi mắt Lồi mắt thậtLồi mắt thật lồi mắt nội tiết tổn thương thâm nhiễm liên quan đến các thành phần hốc mắt gây bệnh mắt nội tiết trong bối cảnh tự miễn bệnh Basedow gây tổn thương cơ vận nhãn và tổ chức sau hốc mắt. Bệnh lý về mắt này thường phối hợp gia tăng nồng độ kháng thể kháng thể TSH kích thích.Phù niệmTỉ lệ gặp 2-3%, thường định vị ở mắt trước cẳng chân, dưới chân gối, có tính chất đối xứng. Vùng thương tổn dày không thể kéo lên có đường kính khoảng vài cm, có giới hạn. Da vùng thương tổn thường hồng bóng, thâm nhiễm cứng 9 da heo, lỗ chân lông nổi to lên nổi rõ, mọc thưa, lông dựng đứng da cam, bài tiết nhiều mồ hôi. Một số trường hợp bệnh nhân mắc hiện tượng này còn xuất hiện lan tỏa từ chi dưới đến bàn chân. To các đầu chiĐầu các ngón tay và các ngón chân của bệnh nhân biến dạng hình dùi trống, liên quan đến màng xương có thể có xuất hiện phản ứng tổ chức mềm, tái và nhiệt độ bình thường phân biệt với bệnh phổi man. Ngoài ra còn xuất hiện triệu chứng tiêu móng các biểu hiện trên còn tìm thấy ở bệnh nhân một số dấu hiệu của các bệnh lý tự miễn phối hợp khác đi kèm như suy vỏ thương thận, suy phó giáp, tiểu đường, nhược cơ năng, trong bối cảnh bệnh đa nội tiết tự miễn. 3. Nguyên nhân gây bệnh Basedow Basedow hiện nay là bệnh tự miễn có nguyên nhân theo thống kê bệnh phần lớn có liên quan đến di truyền khoảng 79%, phần còn lại do các yếu tố khác như tuổi tác, môi trường sống, cơ địa, giới tính, hóa chất có trong thực phẩm ăn uống hằng ngày. Di truyền là nguyên nhân chính gây bệnh Basedow 4. Bệnh Basedow có nguy hiểm không? Basedow là bệnh rất nguy hiểm cho hệ tim mạch, nếu không được điều trị kịp thời và điều trị đúng cách, bệnh nhân sẽ rơi vào tình trạng tử vong trong tình trạng suy tim, suy kiệt và đặc biệt trong tình trạng cơn bão giáp, một trong những biến chứng nặng của bệnh. 5. Chẩn đoán bệnh Basedow Các chuẩn đoán bệnh Basedow lâm sàng được tiến hành thực hiện nhưSiêu âm tuyến giáp, siêu âm Doppler mạch tuyến giápXét nghiệm chẩn đoán hormoneXạ hình tuyến giápĐiện tâm đồChụp X QuangXét nghiệm men gan,... Siêu âm tuyến giáp giúp bác sĩ chẩn đoán bệnh Basedow 6. Các biện pháp ngừa bệnh Basedow Đối với các bệnh nhân đã từng mắc bệnh, cần thực hiện một số biện pháp để giảm nguy cơ bệnh cường giáp tự miễn tái phát trở lại của cao thể trạng sức khỏe, ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng và lành mạnh thường xuyên tập luyện thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe cơ thể, tăng sức đề kháng và điều hòa hệ miễn dịch của cơ bệnh cần xây dựng một nền tảng tinh thần tốt, thoải mái, tránh căng thẳng, buồn hút thuốc lá và sử dụng chất kích thích có hại cho đường hô hấp, tránh hít phải khói thuốc kính để bảo vệ mắt khỏi bụi, nhỏ thuốc và vệ sinh mắt hằng chế ăn nhiều thực phẩm có chứa nhiều iod, không sờ nắn nhiều lên vùng cổ. Ngoài ra, nếu có bất kỳ triệu chứng nào về bệnh cường giáp kể trên, mọi người cần đến đến các cơ sở y tế để thực hiện siêu âm tuyến giáp nhằm kịp thời phát hiện sớm và có pháp đồ điều trị đúng đắn đối với căn bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là một trong những bệnh viện không những đảm bảo chất lượng chuyên môn với đội ngũ y bác sĩ, hệ thống trang thiết bị công nghệ hiện đại mà còn nổi bật với dịch vụ khám, tư vấn và chữa bệnh toàn diện, chuyên nghiệp; không gian khám chữa bệnh văn minh, lịch sự, an toàn và tiệt trùng tối đa. Khách hàng khi chọn thực hiện các xét nghiệm tại đây có thể hoàn toàn yên tâm về độ chính xác của kết quả xét hàng có thể trực tiếp đến hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để thăm khám hoặc liên hệ hotline tại đây để được hỗ thêm Hướng dẫn chẩn đoán Basedow XEM THÊM Bướu Basedow có ảnh hưởng đến sức khỏe không? Biến chứng nguy hiểm của bệnh Basedow là gì? Công dụng thuốc Thiamazol Bệnh Basedow bệnh Graves xảy ra phổ biến ở người trẻ, có nhiều cách gọi khác nhau như Graves hoặc Parry, được biết đến là một trong những căn bệnh cường giáp khá phổ biến hiện nay. Nếu không nhận biết sớm và điều trị tích cực có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng. Bệnh Basedow là bệnh gì? Bệnh Basedow là bệnh tự miễn của tuyến giáp. Bệnh Basedow là nguyên nhân phổ biến nhất của cường giáp, biểu hiện đặc trưng gồm bướu giáp lan tỏa, lồi mắt, phù niêm trước xương chày. Bệnh liên quan đến sự hiện diện của các kháng thể kích thích tuyến giáp. Nữ giới bị bệnh nhiều gấp 5 – 10 lần nam giới. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng nhiều nhất là trong độ tuổi 20 – 40. 1 Nguyên nhân gây bệnh basedow Với cơ chế thông thường, vùng dưới đồi và tuyến yên trong não làm việc cùng nhau để kiểm soát việc sản xuất hormone tuyến giáp. Khi hormone tuyến giáp ít, vùng dưới đồi “báo hiệu” cho tuyến yên tiết ra hormone kích thích tuyến giáp TSH. Nhưng khi bị Basedow tuyến giáp, hệ thống miễn dịch lại tấn công các thụ thể TSH nên cơ thể không thể phân biệt được sự khác biệt giữa cuộc tấn công và các thông điệp truyền đi qua các thụ thể giống nhau. Các nhà khoa học tìm thấy ở người bệnh Basedow tuyến giáp có sự hiện diện của các kháng thể kích thích tuyến giáp sản xuất hormone tuyến giáp quá mức. 2 Cho đến hiện nay căn nguyên của bệnh vẫn chưa được xác định chính xác. Tuy nhiên, một số nghiên cứu chỉ ra rằng bệnh này mang tính di truyền cao khoảng 79%. Bên cạnh việc bắt nguồn từ yếu tố di truyền, bệnh còn có thể do tác động của một số yếu tố khác như độ tuổi, giới tính, môi trường sống và môi trường làm việc, cơ địa hoặc có thể là những loại hóa chất ẩn trong thực phẩm, thức ăn mỗi ngày tích tụ lại. Biểu hiện của bệnh basedow 1. Cường giáp hội chứng nhiễm độc giáp Giảm cân là dấu hiệu thường gặp giảm khoảng 3-20kg trong thời gian ngắn dù vẫn ăn ngon miệng. Một số trường hợp lại tăng cân mất kiểm soát. Thay đổi tính cách và khí sắc cảm thấy lo lắng, dễ cáu gắt, nhạy cảm, khó tập trung, mệt mỏi, khó ngủ. Rối loạn điều hòa thân nhiệt cơn “bốc hỏa”; chảy mồ hôi nhiều ở ngực và bàn tay dấu hiệu bàn tay Basedow, sợ nóng, thường xuyên cảm thấy khát và uống nhiều nước. Tim mạch hồi hộp, đánh trống ngực, ngạt thở, đau vùng trước tim. Rối loạn tiêu hóa tăng số lần đi tiêu, kết cấu phân nát do tăng nhu động ruột ở khoảng 20% bệnh nhân Basedow. Cảm giác buồn nôn, nôn mửa, đau bụng. 2. Bướu giáp lan tỏa Bướu giáp thường gặp ở khoảng 80% người bệnh Basedow. Bướu thường ở mức độ II, lan tỏa, mật độ mềm/chắc, chuyển động khi nuốt. Basedow là dạng bướu mạch nên có thể sờ và nghe thấy tiếng thổi tâm thu. Đôi khi bướu nhỏ hoặc chìm sâu vào trung thất. Kích thước bướu Basedow có thể thay đổi sau khi điều trị, dễ nhận ra ở người bệnh mới mắc bệnh. Khi bệnh tiến triển kèm theo khối u phát triển, những dấu hiệu dễ nhận thấy như sờ thấy có một khối u ở giữa cổ, có ranh giới rõ ràng, không dính vào da, không đau, di động theo nhịp nuốt, khi bướu cổ quá to có thể gây nên tình trạng chèn ép khó chịu. 3. Bệnh mắt nội tiết gặp trong khoảng 40 – 60% các bệnh nhân bướu Basedow Biểu hiện mắt lồi thường gặp ở bệnh nhân nữ. Bướu Basedow là bệnh tự miễn, có liên quan đến tình trạng rối loạn, suy giảm hệ miễn dịch, do đó khi mắc bệnh này, cơ thể sẽ tự sản sinh ra kháng thể tấn công các mô và cơ xung quanh vùng mắt, gây ra các vấn đề về mắt. Nếu các biểu hiện này kéo dài và không được điều trị đúng cách, người bệnh sẽ đối diện nguy cơ mất thị lực. Thông thường, những dấu hiệu đầu tiên khi bệnh xuất hiện biến chứng ở mắt có thể xuất hiện trước hoặc sau 6 tháng mắc bệnh Basedow. Những dấu hiệu ban đầu có thể bao gồm cảm giác chói mắt, khô dịch mắt, cộm như có bụi trong mắt, đau nhức trong hốc mắt, chảy nước mắt… Nếu không được điều trị kịp thời, người bệnh cảm thấy khó khăn khi cử động mắt hoặc nhắm mắt, chớp mắt, lồi mắt, mù lòa… Bệnh chuyển biến nặng sẽ gây ra biến chứng mắt nguy hiểm 4. Phù niêm Da dày lên không thể véo da lên được, đặc biệt ở phần thấp xương chày do sự tích lũy các chất Glycosaminoglycan, đôi khi xuất hiện ở toàn bộ cẳng chân và có thể lan tới cả bàn chân. Da sần sùi, có màu nâu vàng hoặc tím đỏ. Bệnh Basedow lây qua đường nào? Basedow không phải là một bệnh truyền nhiễm nên không lây qua đường hô hấp hay tiếp xúc. Nguyên nhân gây bệnh đến từ yếu tố di truyền. Nếu bố hoặc mẹ bị nhiễm độc giáp thì con sinh ra có nguy cơ mắc bệnh. Do đó, người bệnh hay người trong gia đình có thể yên tâm chung sống cùng nhau. Đối tượng dễ mắc bệnh Basedow Bất kỳ ai cũng có thể mắc bệnh Basedow, kể cả trẻ nhỏ và giới tính khác. Tuy nhiên, những yếu tố làm tăng nguy cơ phát triển bệnh Basedow bao gồm Nữ giới Trong độ tuổi từ 30 đến 50 Mắc bệnh tự miễn khác Chẩn đoán bệnh basedow Chẩn đoán bệnh Basedow chủ yếu dựa vào lâm sàng. Bác sĩ nội tiết sẽ xem xét các triệu chứng, các bướu ở cổ nếu có. Kết hợp kết quả xét nghiệm các chức năng tuyến giáp, hormone tuyến giáp T4 và T3 trong máu tăng cao; trong một số trường hợp, chỉ có mức T3 tăng lên. Nồng độ TSH giảm rất thấp, thậm chí dưới giới hạn phát hiện. Khi nghi ngờ bệnh Basedow, người ta quan sát thấy các kháng thể dương tính anti thyroglobulin, anti microsomal, TSI. 1. Khám sức khỏe tổng thể Một số triệu chứng bác sĩ có thể nhận ra khi khám sức khỏe tổng quát. Những biểu hiện bao gồm nhịp tim nhanh, run, thay đổi da, phản xạ mạnh, tuyến giáp to. 2. Xét nghiệm máu Xét nghiệm hormon tuyến giáp bao gồm TSH, FT4, nên cân nhắc xét nghiệm FT3, T3 khi kết quả FT4 bình thường nhưng biểu hiện cường giáp rõ. Xét nghiệm các kháng thể kháng tuyến giáp như kháng thể thụ thể thyrotropin TRAbs và globulin miễn dịch kích thích tuyến giáp TSI sẽ thấy tăng cao. Các kháng thể này được tạo ra bởi hệ thống miễn dịch để đáp ứng với một cơ thể lạ hoặc mối đe dọa trong cơ thể. 3. Xạ hình tuyến giáp bằng chất đồng vị phóng xạ I123 tốt nhất hoặc I131 hoặc Technitium. Kỹ thuật này giúp đo sự hấp thụ iốt của tuyến giáp còn được gọi là xét nghiệm RAIU. Xét nghiệm được thực hiện bằng cách sử dụng chất đánh dấu phóng xạ và đầu dò đặc biệt để đo lượng i ốt mà tuyến giáp có thể hấp thụ từ máu. Nên thực hiện kỹ thuật này khi nghi ngờ Basedow nhưng không có bướu giáp hoặc không có các triệu chứng về mắt. Trong Basedow Tuyến giáp to và tăng bắt chất phóng xạ. Cổ điển với I131 sẽ có dấu hiệu góc thoát. 4. Siêu âm tuyến giáp và siêu âm doppler màu tuyến giáp Đôi khi cần làm để đánh giá mức độ tăng tưới máu, các nhân giáp. Các biện pháp điều trị bệnh Basedow Nếu bướu cổ lớn, tạo ra các triệu chứng chèn ép hoặc kèm theo các thay đổi ở mắt điển hình của bệnh Basedow, điều trị phẫu thuật sẽ được chỉ định. Trường hợp, bướu cổ có kích thước nhỏ hoặc có nguy cơ phẫu thuật cao, có thể dùng một liều iốt phóng xạ bằng đường uống, sẽ có tác dụng sau 1-2 tháng. Bác sĩ Nội tiết sẽ đưa ra phương pháp điều trị bệnh phù hợp cho người bệnh Các phương pháp điều trị bệnh cụ thể bao gồm 1. Điều trị nội khoa bướu cổ basedow Điều trị bằng thuốc kháng giáp tổng hợp đường uống carbimazole, methimazole, propylthiouracil PTU, giúp ức chế sự hình thành hormone tuyến giáp và bắt đầu cải thiện các triệu chứng sau 1-2 tuần. Methimazole thường được ưu tiên điều trị cho trẻ em và thanh thiếu niên mắc bệnh Basedow. PTU thường là lựa chọn an toàn nhất trong thời kỳ đầu mang thai. 2. Điều trị bằng i-ốt phóng xạ Phương pháp điều trị này phá hủy mô tuyến giáp để giảm sản xuất hormone. Sau khi người bệnh uống dung dịch có chứa i-ốt phóng xạ, tuyến giáp sẽ hấp thụ dung dịch như cách cơ thể hấp thụ i-ốt. Bức xạ tích tụ trong mô và phá hủy chúng. Đây được coi là cách chữa bệnh Basedow. Nhưng nó thường dẫn đến nồng độ hormone tuyến giáp quá thấp suy giáp. Lúc này, người bệnh có thể cần phải dùng hormone tuyến giáp tổng hợp như levothyroxine để bù đắp. Từ “phóng xạ” nghe có vẻ đáng sợ, nhưng phương pháp điều trị này đã được chứng minh là an toàn. Ở Mỹ, hơn 70% người bị cường giáp được điều trị bằng phương pháp này. Phương pháp điều trị này cũng được gọi là radioiodine để giảm bớt nỗi sợ hơn cho người bệnh. Chỉ định Bệnh nhân không thể hoặc không muốn phẫu thuật như suy tim… Bướu giáp không nhỏ đi sau điều trị nội khoa Tái phát sau phẫu thuật Chống chỉ định Phụ nữ có thai/ cho con bú Người trẻ hơn 16-18 tuổi Người bệnh có biến chứng mắt nặng 3. Điều trị ngoại khoa Phẫu thuật bệnh Basedow liên quan đến việc cắt bỏ hầu hết tuyến giáp. Đây cũng là phương pháp trị bệnh cường giáp. Tuy nhiên, do cơ thể không còn khả năng tạo ra hormone tuyến giáp nên sẽ gây tình trạng suy giáp. Lúc này, người bệnh cần bổ sung hormone tuyến giáp tổng hợp trong suốt phần đời còn lại. Người bệnh có thể dùng dưới dạng thuốc viên với định lượng 1 viên/ngày. Cách bổ sung này giúp kiểm soát mức độ tuyến giáp, duy trì tình trạng khỏe mạnh. Lưu ý, trong quá trình điều trị, người bệnh cần đi khám 3-4 tháng một lần để theo dõi các tác dụng phụ có thể xảy ra. Sau khoảng thời gian đó, khoảng 40% trường hợp thuyên giảm vĩnh viễn, trong khi số còn lại tái phát. Chỉ định Bướu giáp to hoặc bướu đa nhân, bướu chìm trong lồng ngực Trong trường hợp tái phát sau điều trị nội khoa Người bệnh muốn có thai sớm Chống chỉ định Người bệnh có biến chứng tim nặng như suy tim… Người bệnh lớn tuổi Biến chứng của bệnh Basedow Bên cạnh các biến chứng phổ biến liên quan đến mắt và da, những biến chứng ở bệnh Basedow khác bao gồm Đột quỵ Suy tim/ các vấn đề về tim Mỏng xương, dẫn đến loãng xương Cơn bão giáp triệu chứng tăng đột ngột hiếm gặp, đe dọa tính mạng Tuy nhiên, những biến chứng này thường phát triển ở những người không được điều trị đúng cách hoặc mắc tình trạng bệnh nặng. Người bệnh Basedow cũng đối diện với nguy cơ phát triển các tình trạng tự miễn dịch khác bao gồm Viêm khớp dạng thấp Lupus ban đỏ hệ thống bệnh tự miễn gây ra tình trạng cơ thể tự sản xuất ra kháng thể tấn công vào các mô của các cơ quan Bệnh Addison suy thượng thận nguyên phát Bệnh celiac bệnh qua trung gian miễn dịch di truyền ở người do không dung nạp gluten, gây viêm niêm mạc và teo nhung mao, dẫn đến kém hấp thu. Bệnh đái tháo đường tuýp 1 Bệnh bạch biến là một tổn thương mất tế bào sắc tố da khiến vùng da bị ảnh hưởng có màu da nhạt hơn so với những vùng da khác trên cơ thể. Ngoài ra, bất kỳ loại cường giáp nào không được điều trị đều có thể dẫn đến tình trạng cấp tính được gọi là khủng hoảng nhiễm độc giáp đặc trưng bởi tình trạng mất nước, nhịp tim nhanh hoặc rối loạn nhịp tim nghiêm trọng, suy tim, rối loạn thông khí và suy giảm ý thức. Có thể bạn chưa biết Bệnh Basedow có chữa khỏi được không? Cách phòng tránh bệnh Basedow Tuyến giáp đóng vai trò quan trọng để duy trì sức khỏe và hoạt động cơ thể. Các triệu chứng có thể không chỉ khó chịu mà còn đáng lo ngại. Tuy nhiên, bệnh tuyến giáp dễ chẩn đoán và có những phương pháp điều trị an toàn và hiệu quả. Người bệnh có thể không khỏi bệnh hoàn toàn và thỉnh thoảng xuất hiện triệu chứng. Điều trị thích hợp có thể giúp người bệnh sống vui vẻ. Để được tư vấn và đặt lịch khám với các chuyên gia Nội tiết – Đái tháo đường hàng đầu tại BVĐK Tâm Anh, quý khách hàng vui lòng liên hệ đến Để phòng chống mắc bệnh Basedow hay các bệnh về tuyến giáp, duy trì lịch khám định kỳ và xét nghiệm máu khi bác sĩ đề nghị. Điều này càng cần thiết đối với nhóm người có nguy cơ. Thông qua các kết quả xét nghiệm, người bệnh có thể nắm được mức hormone tuyến giáp và có kế hoạch bảo vệ sức khỏe của bản thân.

giải phẫu bệnh basedow