giám định pháp y thương tích
3. Thẩm quyền giám định thương tích – Theo quy định tại Điều 12 Luật Giám định tư pháp năm 2012 thì cá nhân khi bị người khác gây thương tích, bị ảnh hưởng về sức khỏe có thể điều trị tại các cơ sở y tế.
Căn cứ theo Khoản 2 Điều 26 Luật Giám định tư pháp 2012, nội dung đơn yêu cầu giám định gồm: Tên tổ chức hoặc họ tên của người yêu cầu giám định; Nội dung yêu cầu giám định; Tên và đặc điểm của đối tượng giám định; Tài liệu, vật chứng có liên quan; hoặc
Không đồng ý với kết luận giám định nêu trên cả Q và V đều yêu cầu giám định lại, tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 23/TgT-TTPY ngày 15/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ (giám định lại), kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây
+ Phụ trách công tác Tài chính - Kế toán, quản lý giám sát tài chính kế toán của công ty. Lập các kế hoạch tài chính, chi phí. Phân tích số liệu thông tin Tài chính tham mưu cho Ban giám đốc đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phục vụ yêu cầu quản trị của công ty.
Giám định thương tích được thực hiện ở đâu? Theo quy định tại Điều 12 Luật Giám định tư pháp năm 2012, cá nhân khi bị gây thương tích, bị ảnh hưởng về sức khỏe có thể điều trị tại các cơ sở y tế, tuy nhiên, kết luận giám định xác định về tỷ lệ thương tật chỉ được công nhận khi được
Hành vi cố ý gây thương tích cho người khác dù trong tình huống người gây thương tích say rượu vẫn được coi là hành vi vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Hình sự 2015 về phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác.
Vay Tienonline Me.
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI BẢN ÁN 86/2019/HSPT NGÀY 25/01/2019 VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH Ngày 25 tháng 01 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 814/2018/TL. HSPT ngày 12 tháng 12 năm 2018 đối với bị cáo Trần Văn Ph do có kháng cáo của bị cáo, bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 15/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. - Bị cáo có kháng cáo Trần Văn Ph, sinh ngày 27/12/1995 tại Thành phố Hà Nội; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở Thôn Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Giới tính nam; Nghề nghiệp lao động tự do; Trình độ văn hóa 12/12; Dân tộc Kinh; Tôn giáo không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông Trần Văn B và bà Nguyễn Thị Ng; Danh chỉ bản số 000000252, lập ngày 10/7/2018 tại công an huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Tiền án, tiền sự Không; Biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo tại ngoại; Có mặt. - Bị hại có kháng cáo Chị Trần Thị M, sinh năm 1977; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở Thôn Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Có mặt. - Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại Trần Thị M Luật sư Phạm Hoàng Việt – Văn phòng luật sư Việt Thanh; Có mặt. - Viện kiểm sát không kháng nghị bản án sơ thẩm. NỘI DUNG VỤ ÁN Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau Gia đình bà Nguyễn Thị Nguyệt và gia đình bà Trần Thị M là hàng xóm cạnh nhau. Sáng ngày 01/5/2018, bà Nguyệt và chồng là Trần Văn Bạ xây lại bức tường rào ngăn cách giữa hai gia đình. Khoảng 09 giờ cùng ngày bà Mãi đi xe đạp qua thì thấy ông Bạ, bà Nguyệt đang xây tường, sẵn có mâu thuẫn từ trước, nên bà Mãi dừng xe nhưng vẫn ngồi trên xe đạp cãi, chửi nhau với bà Nguyệt. Lúc này Trần Văn Ph con trai bà Nguyệt ở trong nhà nghe thấy tiếng cãi, chửi nhau giữa bà Mãi và bà Nguyệt, nên Phú cầm 01 chiếc điếu cày làm bằng tre dài 57cm, đường kính 04cm, không có lõ điếu đi ra để đánh bà Mãi. Thấy Phú cầm điếu cày đến, bà Mãi hoảng sợ nên bị ngã cả người, cả xe xuống đường. Sau đó bà Mãi đứng dậy và gọi “Anh Ba ơi nó đánh em” anh Ba là tên thường gọi của ông Trần Văn Tài là chồng bà Mãi, rồi bà Mãi chạy vào nhà ông Trần Quang Khải ở cạnh đó, nhưng khi chạy đến sân nhà ông Khải thì Phú đuổi kịp và đứng đối diện với bà Mãi, Phú đã dùng điếu cày vụt 01 nhát vào mạng sườn trái bà Mãi. Sau đó ông Khải, bà Nguyệt vào can ngăn, ông Khải từ phía sau ôm Phú, còn bà Nguyệt giằng chiếc điếu cày ra khỏi tay Phú. Thấy vậy, bà Mãi nhặt chiếc cặp lồng ở sân ném về phía Phú, thì trúng vào ông Khải, nhưng không gây thương tích gì. Đồng thời lúc này, ông Trần Văn Tài tên gọi khác là Ba cùng các con là chị Trần Thị Lan, chị Trần Thị Lan Hương, chị Trần Diệu Linh chạy ra chỗ bà Mãi đưa bà Mãi về nhà. Sau khi sự việc xẩy ra bà Trần Thị M được gia đình đưa đến Bệnh viện Vân Đình, Bệnh viện Việt Đức, Bệnh viện Thanh Nhàn sơ cứu và điều trị đến ngày 16/5/2018 thì ra viện. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 3036/C54 – TT1 ngày 18/6/2018 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận Kết quả chính Qua kết quả nghiên cứu hồ sơ, khám giám định, khám chuyên khoa và các xét nghiệm, xác định chị Trần Thị M bị chấn thương vùng đầu và ngực kín, gãy xương sườn IX, X trái đã được điều trị. Hiện để lại Gãy cung bên xương sườn IX, X trái, đang can lệch nhẹ. Kết luận Áp dụng Mục 1, Phần II, Chương 4 Bẳng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích ban hành kèm theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT, ngày 12/6/2014 của Bộ Y tế, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể gãy cung bên xương sườn IX, X trái, đang can lệch nhẹ của chị Trần Thị M tại thời điểm giám định là 07% bảy phần trăm. Cơ chế hình thành thương tích Tổn thương gãy xương sườn IX, X trái của chị Trần Thị M do vật tầy gây lên. Tại bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HS-ST ngày 15/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội đã quyết định 1. Về tội danh Tuyên bố bị cáo Trần Văn Ph phạm tội “Cố ý gây thương tích” 2. Về điều luật áp dụng và hình phạt Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134, Điều 38; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Ph 06 Sáu tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. 3. Về trách nhiệm dân sự Căn cứ vào Điều 48 của Bộ luật hình sự, Điều 584, 585, 586, 590 của Bộ luật dân sự, buộc Trần Văn Ph phải bồi thường cho bà Trần Thị M đồng Ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng được đối trừ đồng Hai mươi triệu đồng bị cáo đã nộp tại Thi hành án dân dự huyện Phú Xuyên, theo biên lai biên thu tiền số AD/2010/0001304 ngày 04/10/2018. Bị cáo còn phải nộp tiếp đồng Mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về Biện pháp bảo đảm thi hành án; Xử lý vật chứng; Án phí hình sự sơ thẩm, dân sự sơ thẩm; Quyền kháng cáo của bị cáo, bị hại theo quy định của pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm Ngày 22 tháng 10 năm 2018, bị cáo Trần Văn Ph có đơn kháng cáo xin giảm hình phạt, cho được hưởng án treo; Ngày 24/10/2018, bị hại Trần Thị M có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt tù và mức bồi thường đối với bị cáo. Tại phiên toà phúc thẩm - Bị cáo Trần Văn Ph giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Bị cáo không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản Luật cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử bị cáo; Khai báo thành khẩn hành vi phạm tội như tại cơ quan điều tra và cấp sơ thẩm; Ăn năn về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo trình bầy do nhất thời nóng giận, muốn bênh mẹ nên đã cầm chiếc điếu cầy vụt 01 phát vào mạng xườn bị hại, gây thương tích cho bị hại, bản thân thì bị đưa ra xét xử nên ân hận, ăn năn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã xin lỗi bị hại và đã nghiêm túc chấp hành phán quyết của cấp sơ thẩm nộp khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại toàn bộ số tiền bồi thường và án phí mà cấp sơ thẩm đã tuyên. Bị cáo mong bị hại bỏ qua lỗi lầm và xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo. - Bị hại Trần Thị M giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đã nộp ngày 24/10/2018 và yêu cầu bổ sung đơn kháng cáo nộp ngày 21/01/2019; Bị hại không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản Luật cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử bị cáo; Không chấp nhận lời xin lỗi của bị hại; Đề nghị xem xét đồng phạm đối với bà Trần Thị Nguyệt mẹ bị cáo vì bà Nguyệt hô hào bị cáo ra đánh bị hại, có chị Trần Thị Mun làm chứng; Đề nghị Hội đồng xét xử tăng mức hình phạt và bồi thường đối với bị cáo, cụ thể yêu cầu bị cáo phải bồi thường đồng gồm cả 5 khoản tiền thuốc, viện phí; Tiền ăn uống tại bệnh viện, bồi dưỡng thêm cho bệnh nhân và 30 ngày tiếp theo sau khi về nhà; Tiền xe đi lại khám chữa bệnh, Tiền công lao động bị giảm sút; Tiền bồi thường về tổn thất và tinh thần; Tại phiên toà phúc thẩm không nộp thêm các tài liệu chứng cứ nào khác liên quan đến yêu cầu tăng bồi thường so với mức bồi thường cấp sơ thẩm đã tuyên. - Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại có quan điểm Không có ý kiến gì về tội danh, điều khoản Luật cấp sơ thẩm đã áp dụng để xét xử bị cáo; Nhận thấy bị cáo xin lỗi bị hại nhưng không có thành ý ăn năn, nếu để ở ngoài xã hội là nguy hiểm nên đề nghị xử phạt giam đối với bị cáo; Về bồi thường dân sự thì bị hại yêu cầu bồi thường đồng gồm 1, Tiền thuốc, tiền viện phí trong 18 ngày điều trị đồng 2, Tiền ăn, uống tại bệnh viện cho 02 người mỗi ngày 03 bữa, sáng đồng, trưa đồng tổng cộng 02 người một ngày là đồng/ngày x18 ngày = đồng; Bồi dưỡng sữa 18 ngày là đồng; Hoa quả 18 ngày là đồng; Bồi dưỡng sau khi ra viện 30 ngày là đồng. Tổng là đồng. 3, Tiền xe đi khám chữa bệnh 13 chuyến là đồng. 4, Tiền công lao động giảm sút 18 ngày x đồng x 02 người = đồng; Bác sỹ hướng dẫn yêu cầu bị hại nghỉ 02 tháng không được lao động đồng x 60 ngày = đồng; 06 tháng không được lao động nặng để lành xương bị gẫy 180 ngày x đồng/ngày = đồng. Tổng cộng đồng. 5, Tiền bồi thường tổn thất tinh thần 35 lần x đồng = đồng. Tuy tại phiên toà phúc thẩm bị hại không xuất trình thêm được các chứng cứ về bồi thường, nhưng thực tế số tiền yêu cầu bồi thường trên là chi phí thực tế để chữa trị bồi dưỡng thương tích, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án Về hình thức Bị cáo, bị hại nộp đơn kháng cáo trong thời hạn Luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo, bị hại theo trình tự phúc thẩm. Về nội dung Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm, nhưng cho hưởng án treo; Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo tăng hình phạt và tăng mức bồi thường dân sự của bị hại vì không có căn cứ, giữ nguyên mức bồi thường mà cấp sơ thẩm đã tuyên. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau [1] Về hình thức Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ph, bị hại Trần Thị M nộp trong thời hạn Luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm. [2] Về nội dung Căn cứ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên toà sơ thẩm, cũng như tại phiên toà phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận Ngày 01/5/2018, do thấy mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Nguyệt và bị hại là bà Trần Thị M có mâu thuẫn, cãi nhau về việc bố mẹ bị cáo xây bức tường ngăn cách giũa hai nhà, nên Trần Văn Ph cầm 01 chiếc điếu cày làm bằng tre dài 57cm, đường kính 04cm, không có lõ điếu đi từ nhà mình ra, đuổi bà Mãi vào sân nhà ông Trần Quang Khải ở tại thôn Lưu Thượng, xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội và vụt bà Mãi 01 phát vào mạng xườn trái, làm gẫy cung bên xương sườn IX, X trái. Tại bản kết luận giám định pháp y thương tích số 3036/C54-TT1 ngày 18/6/2018 của Viện khoa học hình sự-Bộ Công an đã kết luận tỉ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Trần Thị M tại thời điểm giám định là 07%. Với hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Trần Văn Ph về tội “ Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo, bị hại Hội đồng xét xử nhận thấy Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác. Do vậy, phải truy tố và đưa ra xét xử đối với bị cáo mới đảm bảo việc răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Xét thấy, bị cáo là người có trình độ văn hoá nên khi xảy ra mâu thuẫn giữa mẹ bị cáo và bà Mãi thì bị cáo phải can ngăn, nhưng bị cáo đã dùng ngay điếu cày được coi là hung khí nguy hiểm đuổi đánh, gây thương tích cho bà Mãi, gây mất trật tự trị an nên cần thiết phải tăng hình phạt đối với bị cáo mới đảm bảo việc răn đe. Tuy nhiên, xem xét đánh giá nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; Có nơi cư trú rõ ràng; Tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, phạm tội lần đầu; Sau khi phạm tội bị cáo Khai báo thành khẩn để cơ quan điều tra nhanh chóng làm rõ vụ án; Ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Trước khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp tiền bồi thường khắc phục một phần hậu quả và khi Toà án chuẩn bị xét xử phúc thẩm thì bị cáo đã tỏ rõ nhận ra sai lầm từ hành vi phạm tội của mình và tự nộp toàn bộ tiền bồi thường khắc phục hậu quả và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm tại cơ quan thi hành án. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo thể hiện thái độ nghiêm túc ăn năn hối cải khi nhận ra hành vi vi phạm pháp luật của mình, đã xin lỗi bị hại tại phiên toà, bị cáo đã nộp toàn bộ số tiền bồi thường cho bị hại theo quyết định của bản án sơ thẩm; Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho được cải tạo ngoài xã hội, dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú, ấn định thời gian thử thách cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Do vậy, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm quyết định chấp nhận kháng cáo của bị cáo; Chấp nhận kháng cáo của bị hại yêu cầu tăng hình phạt; Tăng mức hình phạt tù đối với bị cáo, nhưng mở lượng khoan hồng của pháp luật, cho bị cáo được hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự Xét yêu cầu tăng mức bồi thường thiệt hại của bị hại nhận thấy căn cứ Điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật dân sự năm 2015 thì bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của mình gây ra cho bị hại các khoản chi phí hợp lý trong việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe; Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; Tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Trên cơ sở chứng từ thực tế do bà Trần Thị M cung cấp có trong hồ sơ vụ án; Mức sống và sinh hoạt tại địa phương; Sau khi điều trị 16 ngày tại bệnh viện bút lục số 92, ra viện bà Mãi có đi khám lại; Trên cơ sở thương tích của bà Mãi, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Mãi tăng mức bồi thường của bị cáo đối với bị hại, cụ thể chấp nhận các khoản bồi thường như sau 1. Tiền thuê xe đi khám, chữa bệnh 11 lượt vào các ngày 06/5; 12/5; 16/5; 18/5; 23/5; 29/5; 10/6; 20/6; 18/7; 20/7; 27/9 với số tiền là đ 2. Tiền viện đ 3. tiền thuốc đồng 4. Thu nhập bị mất trong thời gian nằm viện và điều trị 16 ngày x = đồng 5. Thu nhập bị mất của người chăm sóc 16 ngày x đồng = đồng 6. Tiền bồi dưỡng phục hồi sức khoẻ đồng 7. Tổn thất tinh thần 10 lần mức lương cơ sở x đồng = đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho bà Trần Thị M là đồng bốn mươi chín triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp đồng ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng - tiền bồi thường cho bà Mãi tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Bị cáo còn phải bồi thường đồng mười hai triệu hai trăm linh chín nghìn tám trăm đồng. Xác nhận bị cáo đã nộp án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. [3]Về án phí Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. [4]Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Vì các lẽ trên; QUYẾT ĐỊNH Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự. I. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn Ph; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị hại Trần Thị M . II. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 39/2018/HSST ngày 15/10/2018 của Toà án nhân dân huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội; Tăng mức hình phạt, nhưng cho bị cáo hưởng án treo; Tăng mức bồi thường thiệt hại của bị cáo đối với bị hại. Tuyên bố Trần Văn Ph phạm tội “ Cố ý gây thương tích” Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự Xử phạt Trần Văn Ph 09 chín tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 mười tám tháng, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm. Giao bị cáo cho Uỷ ban nhân dân xã Phú Túc, huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Về trách nhiệm dân sự Căn cứ điều 46, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật đân sự năm 2015 buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại - bà Trần Thị M đồng bốn mươi chín triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn bốn trăm bốn mươi đồng; Xác nhận bị cáo đã nộp đồng ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng tiền bồi thường cho bị hại theo biên lai số AD/2010/0001304 ngày 04/10/2018 và biên lai số AD/2010/0001309 ngày 2310/2018 tại Chị cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Bị cáo còn phải bồi thường cho bị hại đồng mười hai triệu hai trăm linh chín nghìn tám trăm đồng. Bị hại - bà Trần Thị M được nhận đồng ba mươi bẩy triệu sáu trăm ba mươi mốt nghìn sáu trăm bốn mươi đồng tiền bị cáo đã bồi thường tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Xác nhận bị cáo đã nộp đồng án phí hình sự sơ thẩm và đồng án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số AD/2010/0001308 ngày 23/10/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên, Thành phố Hà Nội. Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật bị hại có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo không trả, thì hàng tháng còn phải trả cho bị hại số tiền lãi theo mức lãi xuất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. III. Về án phí Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo phải chịu đồng sáu trăm mười nghìn bốn trăm chín mươi đồng án phí dân sự phúc thẩm. IV. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. V. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án là ngày 25/01/2019. Nguồn
Giám định pháp y hay Pháp y các hoạt động giám định trong lĩnh vực y khoa để phục vụ cho công tác pháp luật, phục vụ cho việc xét xử các vụ án với các hoạt động đặc trưng như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, mổ xác, xác định thương tật, tình trạng sức khỏe, các dấu hiệu thân thể bị xâm phạm, kiểm tra, xác định vật chứng, tang chứng. Giám định pháp y là một ngành khoa học, nó sử dụng những thành tựu khoa học trong lĩnh vực y học, sinh học, hoá học, vật lý học, tin học… để đáp ứng những yêu cầu của pháp luật trong hoạt động tố tụng hình sự và dân sự thông qua hoạt động giám định khi được các cơ quan trưng cầu. Hoạt động đặc trưng của giám định pháp y là khám nghiệm tử thi, mổ xác nhưng ngoài mổ xác, giám định xác chết, giám định pháp y có nhiều chuyên ngành chuyên sâu như y học phân tử, giám định thương tích trên người sống, giám định sức khỏe…. Giám định pháp y được phân thành 03 nội dung cơ bản gồm Giám định pháp y hình sự Là các hoạt động giám định về y khoa nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến việc xâm hại tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm con người, các vụ án mạng, đánh người bị thương, xâm hại tình dục, loạn luân, giao cấu với trẻ em….các mẫu vật có nguồn gốc từ cơ thể người có liên quan đến vụ án như máu, dấu vân tay, tóc, da, gàu, các loại lông…. để lại tại hiện trường có liên quan đến vụ án hay vụ việc Giám định pháp y dân sự Giải quyết các vấn đề có liên quan tới các vụ kiện dân sự như giám định huyết thống, tranh chấp mồ mả, xác định tình trạng sức khoẻ trong việc bồi thường thiệt hại về sức khoẻ của nạn nhân trong các vụ tai nạn lao động, giả vờ bị thương, giả bệnh, giả ốm, đau, đặc biệt là xem xét đối tượng có thực sự bị tâm thần hay mất năng lực hành vi hay không Giám định pháp y tâm thần Giám định pháp y nghề nghiệp Giải quyết các vụ việc liên quan đến bệnh nhân chết trong bệnh viện, trạm xá, các cơ sở y tế khác mà không phải do bệnh nặng vượt quá khả năng y tế mà là lỗi của nhân viên y tế thiếu tinh thần trách nhiệm, thiếu y đức, sai sót về chuyên môn chẩn đoán sai, mổ sai, sử dụng nhầm thuốc, để sót dụng cụ trong phẫu thuật, để quên dụng cụ, đồ vật trong cơ thể người bệnh…. Đối tượng giám định pháp y bao gồm Giám định trên người sống thông qua việc khám, xem xét người đang sống là nạn nhân để xác định thương tích trên cơ thể nạn nhân, tỷ lệ thương tật do di chứng của chấn thương. Giám định trên cơ thể của thủ phạm, người tình nghi là thủ phạm nhằm xác định thương tích để lại trên cơ thể do quá trình phạm pháp tạo nên. Xác định tuổi thực khi có gian lận về tuổi giữa vị thành niên và thành niên để tăng giảm mức hình phạt. Giám định pháp y tử thi nhằm xác định nguyên chết, thời gian chết, các bệnh lý kèm theo và quan trọng là xác định thương tích trên nạn nhân thương tích trước chết, thương tích sau chết, thương tích gây tử vong cùng với giám định các loại hung khí gây ra các thương tích Giám định mẫu vật có nguồn gốc cơ thể người trong các vụ án, nghi án, lông, tóc, máu, nước bọt, mồ hôi, tinh dịch còn vương vãi, để lại trên hiện trường Giám định nhận dạng người bao gồm những tử thi chưa rõ tung tích ngoài xác định nguyên nhân chết còn xác định tuổi, giới tính, chủng tộc, đặc điểm bệnh tật, giám định các bộ xương, thậm chí là những bộ xương khô, đầu lâu chưa rõ tung tích có thể xác định được tuổi, chiều cao,giới tính, chủng tộc, dựng lại khuôn mặt bằng phương pháp nặn tượng hoặc lồng ghép ảnh bằng máy vi tính. Giám định độc chất phủ tạng Xác định trong phủ tang người chết chưa rõ nguyên nhân có chất độc hay không và bị trúng độc loại gì từ đó đưa ra giả thiết về hung thủ đã hạ độc, nạn nhân bị đầu độc trong trường hợp nào. Giám định vật gây thương tích Xác định các vật có thể gây ra thương tích trên nạn nhân như dao, kéo, búa, rìu, cờ lê, mỏ lết… Giám định dựa trên hồ sơ tài liệu là việc giám định thông qua các hồ sơ tài liệu, sổ sách, ghi chép, bản nháp, dự thảo có liên quan bản ảnh pháp y, hồ sơ bệnh án, biên bản giải phẫu tử thi, bản ghi lời khai, nhật ký, thư tuyệt mệnh… có thể xác định nguyên nhân chết, cơ chế gây tổn thương, vật gây thương tích, động cơ, mục đích… Bài viết liên quan
Cho hỏi giám định vật gây thương tích là sử dụng những phương pháp giám định nào?- Câu hỏi của anh Bình tại Hà Nội. Trình tự tiếp nhận, phân công và chuẩn bị giám định vật gây thương tích được bộ y tế quy định như thế nào? Phương pháp giám định vật gây thương tích được quy định thực hiện như thế nào? Mẫu kết luận giám định vật gây thương tích được quy định như thế nào? Trình tự tiếp nhận, phân công và chuẩn bị giám định vật gây thương tích được bộ y tế quy định như thế nào?Căn cứ tiểu mục III Mục 9 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 13/2022/TT-BYT quy định trình tự tiếp nhận, phân công và chuẩn bị giám định vật gây thương tích như sauBước 1. Tiếp nhận quyết định trưng cầu/yêu cầu, hồ sơ và đối tượng giám định- Bộ phận được phân công tiếp nhận và lập biên bản giao nhận quyết định trưng cầu/yêu cầu giám định, hồ sơ giám định và mẫu vật giám định.* Hồ sơ gửi giám định gồm- Quyết định trưng cầu/yêu cầu giám Bản sao hợp pháp các hồ sơ, tài liệu liên quan đến nội dung cần giám định+ Các hồ sơ y tế có liên quan giám định nếu có.+ Quyết định trưng cầu/yêu cầu giám định, kết luận giám định trước đó đối với trường hợp giám định bổ sung, giám định lại.+ Biên bản ghi lời khai của bị hại, nghi can, nhân chứng nếu cần.+ Biên bản niêm phong thu mẫu vật.+ Các tài liệu khác có liên quan đến nội dung cần giám định nếu có.- Mẫu vật giám định.* Nếu đủ điều kiện giám định, thực hiện các bước tiếp theo của quy trình này.* Từ chối giám định trong trường hợp không đủ điều kiện giám định theo quy định tại khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giám định tư 2. Phân công cán bộ chuyên môn- Lãnh đạo đơn vị phân công giám định viên GĐV pháp y, người giúp việc NGV cho GĐV pháp y thực hiện giám Nhiệm vụ của GĐV+ Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu.+ Liên hệ và trao đổi với đại diện cơ quan trưng cầu và các cơ quan có liên quan.+ Chỉ đạo NGV chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị để giám định.+ Giám định mẫu vật.+ Đề nghị và chuẩn bị tổ chức thực nghiệm, hội chẩn, hoặc xin ý kiến chuyên gia nếu cần.+ Tổng hợp, đánh giá các kết quả nghiên cứu mẫu vật, thực nghiệm, hội chẩn,... nếu có đưa ra kết luận giám định.+ Hoàn thiện văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định và kết luận giám định.+ Giải quyết những phát sinh trong quá trình giám định, báo cáo kết quả với lãnh đạo cơ quan.+ Trong quá trình giám định, các GĐV phối hợp, thảo luận, thống nhất trước khi kết luận giám Nhiệm vụ của NGV+ Chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị giám định.+ Chụp ảnh mẫu vật giám định.+ Phụ giúp GĐV tiến hành thực nghiệm, chụp ảnh thực nghiệm nếu có.+ Vệ sinh dụng cụ, thiết bị, phương tiện.+ Phụ giúp GĐV dự thảo văn bản ghi nhận quá trình thực hiện giám định và kết luận giám định, hoàn thiện bản ảnh giám định trình GĐV duyệt.+ Thực hiện các nhiệm vụ khác theo phân công của 3. Nghiên cứu hồ sơ, tài liệuGĐV nghiên cứu hồ sơ, tài liệu trước khi tiến hành khám giám 4. Làm việc với cán bộ cơ quan trưng cầu/người yêu cầu giám định- Tiếp nhận mẫu vật giám định bàn giao từ cơ quan trưng cầu/người yêu cầu giám định. Mở niêm phong, lập biên bản theo quy Yêu cầu cán bộ cơ quan trưng cầu/người yêu cầu giám định phối hợp, bổ sung hồ sơ, tài liệu, đưa người bị thương tích đến khám trong trường hợp cần trình giám định vật gây thương tích được bộ y tế hướng dẫn như thế nào? Phương pháp giám định vật gây thương tích được quy định như thế nào? Hình từ InternetPhương pháp giám định vật gây thương tích được quy định thực hiện như thế nào?Căn cứ tiểu mục IV Mục 3 Phụ lục 1 ban hành kèm theo Thông tư 13/2022/TT-BYT có quy định như sau về phương pháp trong quy trình giám định vật gây thương tích như saui Nghiên cứu mẫu vật- Quan sát, phân loại mẫu Đánh giá tổng thể mẫu vật, đo kích thước chiều dài, chiều rộng, độ cao, độ dày,..., cân từng mẫu Mô tả đặc điểm, tính chất của mẫu vật Vật cứng, vật tày, vật sắc, vật có cạnh, hỗn hợp,...- Tìm kiếm dấu hiệu, đặc tính gây thương tích của mẫu Đối chiếu mẫu vật với thương tích được ghi nhận qua hồ sơ, tài liệu, trong trường hợp cần thiết có thể đối chiếu trực tiếp trên cơ thể người bị thương Đối chiếu sự tương quan của các đặc điểm thương tích với mẫu vật.+ Bờ mép vết thương.+ Chiều dài vết thương.+ Chiều rộng vết thương.+ Chiều sâu vết thương.+ Trọng lượng của mẫu vật so với thương tích.+ Các đặc điểm khác giữa mẫu vật và thương Lựa chọn xác định sự phù hợp của vật gây thương tích trong trường hợp có nhiều mẫu vật được gửi đến giám định.ii Thực nghiệm, hội chẩn, xin ý kiến chuyên gia- Trong trường hợp cần thiết, GĐV đề xuất với thủ trưởng cơ quan giám định tiến hành thực nghiệm, hội chẩn, xin ý kiến chuyên gia.+ Căn cứ vào hồ sơ, tài liệu.+ Căn cứ vào vị trí tổn thương.+ Căn cứ vào tính chất tổn thương.+ Chọn mẫu vật.+ Chọn mẫu thực nghiệm phù hợp.+ Chụp ảnh có thể ghi hình nếu cần, lập biên bản quá trình thực nghiệm, kết quả thực nghiệm.iii Tổng hợp, đánh giá và kết luận giám định- Tổng hợp các kết quả chính+ Tổng hợp, đánh giá kết quả nghiên cứu hồ sơ, tài liệu.+ Tổng hợp, đánh giá kết quả nghiên cứu mẫu vật.+ Kết quả thực nghiệm, kết quả hội chẩn, ý kiến chuyên gia nếu có.- Kết luận Kết luận giám định căn cứ vào các kết quả chính qua giám định, trả lời nội dung các câu hỏi trong quyết định trưng cầu/yêu cầu giám kết luận giám định vật gây thương tích được quy định như thế nào?Hiện nay kết luận giám định vật gây thương tích được quy định tại Mẫu số 11a hoặc 11b Phụ lục 3 ban hành kèm theo Thông tư 13/2022/TT-BYT như sauTải Mẫu kết luận giám định vật gây thương tích Tải về.
Giám định thương tích ở đâu, bệnh viện có giám định thương tật không hay thủ tục yêu cầu giám định thương tích được thực hiện như thế nào là những vấn đề pháp lý phổ biến mà người bị hành hung quan tâm. Luật L24H tư vấn, thông tin các đơn vị thực hiện giám định thương tích cũng như trình bày thủ tục giám định trong vụ án tố tụng hình sự. Giám định thương tích ở đâu Giám định thương tích được thực hiện ở đâu? Theo quy định tại Điều 12 Luật Giám định tư pháp năm 2012, cá nhân khi bị gây thương tích, bị ảnh hưởng về sức khỏe có thể điều trị tại các cơ sở y tế, tuy nhiên, kết luận giám định xác định về tỷ lệ thương tật chỉ được công nhận khi được thực hiện tại các tổ chức giám định tư pháp công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thành lập trong lĩnh vực pháp y Viện pháp y của Bộ y tế, Bộ quốc phòng, Trung tâm giám định pháp y cấp tỉnh hoặc của Viện khoa học hình sự Bộ công an. Trình tự thủ tục yêu cầu giám định thương tích Hồ sơ cần chuẩn bị Văn bản yêu cầu giám định/đề nghị giám định; Các tài liệu, đồ vật có liên quan nếu có; Bản sao giấy tờ chứng minh mình là đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Cơ sở pháp lý khoản 1 Điều 26 Luật giám định tư pháp 2012 sửa đổi, bổ sung 2020 Trình tự thủ tục Bước 1 Người có quyền yêu cầu giám định thương tích hoặc Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định. Bước 2 Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giám định tiếp nhận và thực hiện giám định theo yêu cầu. Bước 3 Gửi kết quả giám định cho cơ quan đã trưng cầu hoặc người yêu cầu giám định Cơ quan nào có thẩm quyền giám định thương tích? Điều 12 Luật Giám định tư pháp 2012 sửa đổi, bổ sung 2020 được hướng dẫn bởi Điều 2 Nghị định 85/2013/NĐ-CP thì các cơ quan công lập sau đây có thẩm quyền giám định thương tích Viện pháp y của Bộ Y tế, Viện pháp y quân đội thuộc Bộ quốc phòng, Trung tâm giám định pháp y cấp tỉnh hoặc của Viện khoa học hình sự, Bộ Công an. Giám định thương tật hết bao nhiêu tiền? Theo quy định tại Điều 36 Luật Giám định tư pháp năm 2012 sửa đổi, bổ sung 2020, cơ quan trưng cầu giám định hoặc người yêu cầu giám định về thương tật phải có trách nhiệm trả chi phí giám định cho tổ chức đã thực hiện giám định thương tật theo quy định của pháp luật. Các loại chi phí giám định trong tố tụng hình sự gồm cụ thể các loại được quy định tại Điều 9 của Pháp lệnh 02/2012/UBTVQH quy định về chi phí giám định, định giá; chi phí cho người làm chứng, phiên dịch trong tố tụng do Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành và quy định chi tiết tại các Điều 3, 4, 5, 6 Nghị định 81/2014/NĐ – CP. Theo đó, căn cứ tính chất của đối tượng và nội dung giám định cụ thể, chi phí giám định bao gồm một hoặc một số chi phí sau đây Chi phí tiền lương và các khoản thù lao cho người thực hiện giám định; Chi phí vật tư tiêu hao; Chi phí sử dụng dịch vụ; Chi phí khấu hao máy móc, phương tiện, thiết bị; Các chi phí khác theo quy định của pháp luật. Chi phí giám định thương tích Thời gian giám định thương tật là bao lâu? Theo khoản 4 Điều 208 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì thời hạn giám định thương tật Không quá 09 ngày. Trường hợp việc giám định không thể tiến hành trong thời hạn quy định thì tổ chức, cá nhân tiến hành giám định phải kịp thời thông báo bằng văn bản, nêu rõ lý do cho cơ quan trưng cầu, người yêu cầu giám định. Dịch vụ luật sư bảo vệ cho người bị hại bị người khác đánh Tư vấn quy định của pháp luật về thủ tục yêu cầu giám định thương tích; Soạn thảo hồ sơ, văn bản yêu cầu giám định thương tích, giám định y khoa theo mẫu đơn có sẵn; Tư vấn giám định thương tật bao nhiêu phần trăm thì bị khởi tố hình sự Soạn đơn tố giác tội phạm, tin báo, giai đoạn điều tra; Trao đổi với người bị hại để nghiên cứu vụ việc, trực tiếp hoặc cùng bị hại thu thập chứng cứ, vật chứng vụ án để bảo vệ trong vụ việc đánh nhau dẫn đến thương tích; Đại diện cho bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại; Tiến hành soạn thảo đơn, chuẩn bị hồ sơ, tài liệu cùng với các quy định từ các văn bản liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại; Luật sư tham gia bảo vệ cho bị hại tại cơ quan ở giai đoạn truy tố, toà án xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm. Dịch vụ luật sư bảo vệ cho người bị hại bị người khác đánh của L24H >>> Tham khảo thêm Dịch vụ luật sư Trên đây là những thông tin về cơ quan thực hiện giám định thương tích cũng như thủ tục nhất định được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và Luật giám định tư pháp. Nếu quý khách cần tư vấn pháp lý về giám định thương tích hay tỷ lệ phần trăm thương tật để đủ điều kiện khởi tố hình sự, vui lòng liên hệ HOTLINE để được luật sư tư vấn luật hình sự hỗ trợ nhanh nhất. Bài viết được thực hiện bởi Thạc sĩ - Luật sư Phan Mạnh Thăng Lĩnh vực tư vấn Đất Đai, Hình Sự, Dân Sự, Hành Chính, Lao Động, Doanh Nghiệp, Thương Mại, Hợp đồng, Thừa kế, Tranh Tụng, Bào Chữa và một số vấn đề liên quan pháp luật khác Trình độ đào tạo Thạc sỹ kinh tế Luật - Trường đại học Luật Số năm kinh nghiệm thực tế 12 năm Tổng số bài viết 840 bài viết
Quy định về việc trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích, thương tật. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Hành vi cố ý gây thương tích là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khoẻ của người khác. Mục lục bài viết Quy định về việc trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích, thương tật 1. Luật sư tư vấn tội cố ý gây thương tích 2. Quy định về việc trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật 3. Luật sư tư vấn trường hợp của bạn Xem thêm » Quy định từ chối giám định thương tật, thương tích 1. Luật sư tư vấn tội cố ý gây thương tích Tội cố ý gây thương tích là tội phạm, nguyên nhân dẫn đến hành vi cố ý gây thương tích chủ yếu xuất phát từ các mẫu thuẫn, bất đồng giữa các cá nhân trên thực tế… Hành vi cố ý gây thương tích không chỉ gây ảnh hưởng đến người thực hiện hành vi và ảnh hưởng đến sức khỏe người bị hại mà quan trọng hơn hành vi cố ý gây thương tích gây ảnh hưởng lớn đến trật tự an toàn xã hội. Hành vi cố ý gây thương tích tùy từng mức độ có thể bị xử lý vi phạm hành chính hoặc xử lý hình sự trên thực tế. 2. Quy định về việc trưng cầu giám định tỷ lệ thương tật Câu hỏi Anh trai em bị người ta hành hung gây thương tích, anh đã tới cơ quan công an trình báo làm đơn tố cáo về việc người ta hành hung em gây thương tích. Anh em bị đâm vào cánh tay và một vết đâm ở lưng phải nằm điều trị bệnh viên Việt Đức để nối gân, mất một tháng điều trị. Và cơ quan công an bảo anh em cung cấp bệnh án? Và anh em muốn giám định tổn thương sức khoẻ thì khi nào mới giám định được, khỏi mới đi giám định hay bây giờ đi giám định? Vì hiện tại anh em phải nằm bất động không được đi lại ạ. Em xin chân thành cảm ơn! Luật sư tư vấn hình sự Cảm ơn bạn đã đặt câu hỏi đề nghị tư vấn, trường hợp của bạn chúng tôi tư vấn như sau Theo như thông tin bạn cung cấp thì hiện bạn đang điều trị bệnh tại bệnh viện. Hiện nay, bạn cần làm giám định thương tật để biết mình bị thương tật bao nhiêu phần trăm. Căn cứ theo quy định tại Điều 205 về Trưng cầu giám định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau “1. Khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 206 của Bộ luật này hoặc khi xét thấy cần thiết thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng ra quyết định trưng cầu giám định. 2. Quyết định trưng cầu giám định có các nội dung a Tên cơ quan trưng cầu giám định; họ tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định; b Tên tổ chức; họ tên người được trưng cầu giám định; c Tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định; d Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo nếu có; đ Nội dung yêu cầu giám định; e Ngày, tháng, năm trưng cầu giám định và thời hạn trả kết luận giám định. 3. Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi ra quyết định trưng cầu giám định, cơ quan trưng cầu giám định phải giao hoặc gửi quyết định trưng cầu giám định, hồ sơ, đối tượng trưng cầu giám định cho tổ chức, cá nhân thực hiện giám định; gửi quyết định trưng cầu giám định cho Viện kiểm sát có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra.” Căn cứ theo quy định tại Điều 22 về Quyền, nghĩa vụ của người yêu cầu giám định tư pháp của Luật giám định tư pháp 2012 như sau “1. Người yêu cầu giám định có quyền gửi văn bản yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định. Trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho người yêu cầu giám định bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, người yêu cầu giám định có quyền tự mình yêu cầu giám định. 2. Người yêu cầu giám định có quyền a Yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trả kết luận giám định đúng thời hạn đã thỏa thuận và theo nội dung đã yêu cầu; b Yêu cầu cá nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giải thích kết luận giám định; c Đề nghị Toà án triệu tập người giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giải thích, trình bày về kết luận giám định; d Yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định lại; yêu cầu giám định bổ sung theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này. 3. Người yêu cầu giám định tư pháp có nghĩa vụ a Cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng giám định theo yêu cầu của người giám định tư pháp và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu do mình cung cấp; b Nộp tạm ứng chi phí giám định tư pháp khi yêu cầu giám định; thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho cá nhân, tổ chức thực hiện giám định khi nhận kết luận giám định. 4. Người yêu cầu giám định chỉ được thực hiện quyền tự yêu cầu giám định trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.” 3. Luật sư tư vấn trường hợp của bạn Đối với trường hợp này của bạn, bạn có quyền yêu cầu cơ quan điều tra tiến hành giám định thương tích của bạn do bị hành hung. Nếu như thấy việc giám định là cần thiết thì có quan điều tra sẽ tiến hành thủ tục trưng cầu giám định. Bạn nên giám định sức khỏe trong thời gian hiện tại để biết chính xác nhất về mức thương tật của mình và để cơ quan điều tra có cơ sở khởi tố người gây ra thương tích đối với bạn ra trước pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bạn. » Luật sư tư vấn luật hình sự » Luật sư bào chữa vụ án hình sự
giám định pháp y thương tích